RSS

Category Archives: Sức Khỏe

Gallery

180,000 Người Chết/Năm Vì Bệnh Viện Bất Cẩn

Trung Tâm Y Tế Ronald Reagan UCLA Medical Center được nâng cấp từ điểm F lên D trong phúc trình về an toàn bệnh viện trên toàn quốc được công bố hôm Thứ Tư, trong khi Trung Tâm Y Tế Cedars-Sinai Medical Center thì vẫn còn ở điểm C.

Nhóm Leapfrog Group, tổ chức chăm sóc sức khỏe bất vụ lợi, lập bảng điểm dựa trên một phân tích về những sai lầm đưa tới bị nhiễm trùng, bị thương, nhầm thuốc và những vấn đề khác gây cho bệnh nhân thiệt hại hay tử vong. Tổ chức này đã công bố điểm trong một nỗ lực thông tin cho bệnh nhân và giảm thiểu những vấn đề về an toàn, theo Leah Binder, chủ tịch và tổng giám đốc của Leapfrog.

Bà ấy phát biểu rằng, “Chưa đủ để các bệnh viện hứa là họ sẽ làm mọi việc mà họ có thể để bảo vệ an toàn cho bệnh nhân. Họ phải làm nhiều hơn thế. Bệnh nhân và những người khác trong cộng đồng đòi hỏi những cải thiện.”

Mỗi năm, 180,000 người chết trên toàn quốc từ những sai lầm của bệnh viện và bị thương, theo tổ chức nói trên cho biết. Các giám đốc bệnh viện, bệnh nhân, và công đoàn tất cả đều đóng vai trò làm cho các bệnh viện an toàn hơn, theo Binder. Các bệnh nhân có thể kiểm tra điểm của bệnh viện của họ tại trang mạng hospitalsafetyscore.org

(Theo Nguoiviet)

 
Leave a comment

Posted by on May 13, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags:

Gallery

Nguy cơ bị ung thư vú đối với thợ nail

Nguy cơ bị ung thư vú đối với thợ nail

Nhiều phụ nữ bị ung thư vú không có một yếu tố nguy cơ (risk factor) nào báo trước cả, trong khi đó, một số khác dù có một vài nguy cơ nhưng không bao giờ bị ung thư vú cả. Chúng ta có thể liệt kê một số nguy cơ có thể đưa đến bệnh ung thư vú. Một số yếu tố nguy cơ không thể nào tránh được thí dụ như, tuổi tác và yếu tố di truyền, tuy nhiên một số yếu tố khác như uống rượu, tăng cân trên trung bình, có thể điều chỉnh được để tránh nguy cơ bị ung thư vú.

Cụ thể, như đã đề cập trên đây, những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được là:

Tuổi tác: Càng lớn tuổi càng dễ bị ung thư vú.

Chủng tộc: Phụ nữ da trắng trên 40 dễ bị ung thư vú nhiều nhất. Phụ nữ da đen, ít hơn một tí nhưng lại dễ chết vì ung thư vú hơn người da trắng. Phụ nữ Á Châu, trong đó có người Việt, ít bị ung thư vú hơn cả.

Ðã từng bị ung thư: Phụ nữ bị ung thư một bên vú, nguy cơ tái phát bên còn lại sẽ cao hơn.

Gia đình có người đã bị ung thư, như mẹ, chị em gái, hay con gái. Nếu số người bi ung thư vú trong gia đình càng nhiều thì xác suất bị ung thư vú càng tăng cao.

Có nhân di truyền gene BRCA1 và BRCA2, người Việt mình ít có gene này hơn người Âu Châu nhưng không phải là không có.

Tuổi bắt đầu có kinh và tuổi nghỉ kinh: Người có kinh trước 12 tuổi và/hoặc nghỉ kinh sau 54 có nguy cơ ung thư vú cao hơn trung bình một tí.

Có con đầu lòng trễ: Phụ nữ sanh con đầu lòng sau 29 tuổi, dễ bị ung thư vú hơn. Sanh con càng nhiều và cho con bú sữa mẹ thì nguy cơ bị ung thư vú càng ít đi.

Những yếu tố nguy cơ khác có thể thay đổi được là:

Sức nặng cơ thể: Phụ nữ trên cân quá mức trung bình dễ bị ung thư vú hơn người có sức nặng lý tưởng.

Rượu: Phụ nữ uống rượu trên một ly mỗi ngày, và, càng uống nhiều càng dễ bị ung thư hơn. Nên hạn chế uống một vài ly rượu mỗi tuần là tốt hơn cả.

Hormone, kích tố nữ: Phụ nữ uống nhiều hormone estrogen lâu năm có nguy cơ ung thư vú tăng cao khoảng 26%.

Những yếu tố khác như, uống thuốc ngừa thai, hút thuốc lá, ăn nhiều chất béo, hay ô nhiễm môi trường, các nghiên cứu hiện nay vẫn chưa có kết luận rõ ràng. “Ông nói gà, bà nói vịt”, hay “mình thấy có, nó bảo không”. Tránh được thì nên tránh.

Nghiên cứu cũng cho biết phụ nữ có giải phẫu căng, nâng ngực, không có nguy cơ bị ung thư vú.

Nguy cơ bị ung thư vú trong những người làm móng tay ở California và Quận Cam

Một số liệu thống kê cho biết, số tiệm làm móng tay ở California đã tăng gấp 3 trong vòng 20 năm vừa qua với hơn 80% tiệm do người Việt điều hành, trong đó 95% công nhân là phụ nữ.

Một số các hóa chất có trong sản phẩm làm móng tay như: Formaldehyde, Silica (quartz hay crystobalite), Methylene Chloride và Titanium Dioxide là những chất được biết hay nghi ngờ có thể gây ra các loại ung thư hoặc làm tăng nguy cơ bị ung thư. Hóa chất DiButyl Phthalate có trong bột làm móng tay có thể gây ra sự bất thường cho chu kỳ kinh nguyệt và sự rụng trứng, và còn gây ảnh hưởng tác hại đến các hệ thống nội tiết khác trong cơ thể (endocrine system). Cuối cùng hóa chất Toluene bị nghi ngờ có thể gây ra thai nhi bị tàn tật, làm tăng khả năng bị sẩy thai.

Trong khi chờ đợi thông tin về những số liệu thống kê hay nghiên cứu mới rõ ràng hơn về nguy cơ ung thư vú hay các loại ung thư khác trong cộng đồng người làm móng tay, chúng ta nên tìm mọi cách cải thiện môi trường làm việc cho công nhân trong nghề làm móng tay.

Suy ra, những nguyên nhân có thể làm tăng con số phụ nữ dưới tuổi 40 bị ung thư vú trong 4 thập niên qua, có thể là do phụ nữ ngày nay thường có con trễ, uống nhiều rượu hơn trước, và hệ quả của hiện trạng béo phì.

Ðối với phụ nữ Á Châu mới đến từ Châu Á, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú còn tương tự như ở quốc gia gốc của họ. Trong khi đó phụ nữ Á Châu sống một thời gian dài ở Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú ngày càng tăng cao như người bản xứ. Còn thế hệ thứ hai sanh ra và lớn lên tại Mỹ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư của họ sẽ xấp xỉ như các sắc dân khác.

Vì vậy, câu hỏi đối với cộng đồng người Việt có một dân số lớn, sống và làm việc tại Orange County, California, làm thế nào để bớt đi nguy cơ bệnh ung thư vú?

Lời khuyên cho quý bạn là phải thay đổi và điều chỉnh tức khắc những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được.

Thêm vào đó nên theo các lời khuyên của Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society), tư vấn với bác sĩ gia đình để được khám nghiệm và truy tầm ung thư vú nhất là khi bạn có những yếu tố nguy cơ không thay đổi được đã trình bày ở trên.

Truy tầm, định bệnh và chữa trị sớm sẽ làm giảm tỉ lệ tử vong vì bệnh ung thư vú.

 

 
Leave a comment

Posted by on March 19, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags:

Gallery

Bưởi Trộn Chung với Vài Loại Thuốc Tây Gây Chết Người

Bưởi Trộn Chung với Vài Loại Thuốc Tây Gây Chết Người

Một số thuốc kho trộn chung với bưởi có thể dẫn tới nhiều vấn đề nghiêm trọng cho sức khỏe, gồm chết bất đắc kỳ tử,, đã gia tăng, theo cảnh báo của một nhà nghiên cứu Canada là người đầu tiên khám phá ra chất độc liên kết.

Trong một bài viết trên tạp chí Medical Association Journal tại Canada, David Bailey, một khoa học gia tại Lawson Health Research Institute tại Lodon, Ontario, nói rằng hơn 85 loại thuốc, phần nhiều trong số đó phải mua bằng toa để trị các bệnh thông thường, được biết có tác dụng liên kết với trái cây màu hồng.

Ông ấy thực hiện thử nghiệm lần đầu vào 20 năm trước.

Nhưng số thuốc có tác dụng với bưởi và gây vấn đề nghiêm trọng làm tai hại sức khỏe đã nhảy vọt từ 17 tới 43 trong 4 năm qua, cũng như nhiều loại thuốc mới đã được đưa ra thị trường.

Thường, các bệnh nhân không nói họ ăn bưởi và các bác sĩ không hỏi, theo tác giả bài báo.

Bưởi gây ra nguy cơ khi trộn chung với một số thuốc tây bởi vì nó hạn chế hóa chất enzyme làm cho thuốc đi vào dòng máu ở áp lực toàn bộ, có thể dẫn đến tình trạng quá lều.

 
Leave a comment

Posted by on March 5, 2013 in Dược phẩm, Sức Khỏe

 

Tags: ,

Gallery

Vitamin D và Calcium chưa chắc giúp giảm nứt xương

Vitamin D và Calcium chưa chắc giúp giảm nứt xương

The US Preventive Services Task Force (USPSTF), một tổ chức độc lập tập hợp với các chuyên gia về y tế, xem xét kết quả nghiên cứu về vai trò của phụ chất vitamin D và calcium trong việc phòng ngừa nứt xương, nhận thấy rằng, việc thêm 400 đơn vị vitamin D và 1,000mg calcium vào khẩu phần, đã không giảm bớt nguy cơ bị nứt xương nơi phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh, kể cả ở phụ nữ trẻ lẫn đàn ông, theo Time.com.

Trong bài viết đăng trên tập san Annals of Internal Medicine, USPSTF kết luận rằng, không có đủ chứng cớ cho thấy, việc dùng thêm vitamin D và calcium có lợi gì hơn so với phơi nắng, là cách kết thành vitamin D một cách tự nhiên. USPSTF cũng nói không có đủ chứng cớ để đi đến đề nghị dùng phụ chất mỗi ngày hơn 400 đơn vị vitamin D và 1,000mg calcium, để phòng ngừa nứt xương nơi phụ nữ trong thời kỳ mãn kinh. Ngoài ra dùng liều cao hơn còn tạo thêm rủi ro khác. Nghiên cứu cho thấy dùng quá nhiều vitamin D và calcium có thể gia tăng nguy cơ bị sạn thận cùng các điều kiện khác.

Kết quả nói trên nằm trong một loạt những đề nghị của USPSTF có vẻ như ngược lại với lời khuyên của ngành y tế. Gần đây USPSTF đề nghị rằng đàn ông không cần phải thường xuyên đi thử nghiệm về prostate specific antigen (PSA) để truy tầm bệnh ung thư nhiếp hộ tuyến, và rằng phụ nữ nên chờ đến trên 50 rồi mới làm mammogram định kỳ để truy tầm ung thư vú.

Tuy nhiên đối với vitamin D và calcium, USPSTF không phủ nhận vai trò giúp cho xương được lành mạnh của những hợp chất này, mà chỉ khuyến cáo rằng, dùng thêm phụ chất vitamin D và calcium chưa chắc giúp xương tránh bị nứt thêm. Thay vì vậy USPSTF nói, giới y sĩ và bệnh nhân nên tự quyết định dựa theo chứng cớ tốt nhất mà họ có được.

Nên nhớ rằng vitamin D và calcium được bán sẵn ở các quầy thuốc mà không phải cần đến toa bác sĩ, và thông thường các bác sĩ không hề biết đến bệnh nhân của họ đang dùng thêm những thứ này. Ðúng ra người y sĩ cần biết những thứ thuốc mà bệnh nhân đang dùng thêm vì chúng có thể có tác dụng tương tác với những thuốc khác mà bệnh nhân được bác sĩ cho uống, cho dù bệnh nhân dùng thêm phụ chất đó chỉ với mục đích tăng thêm chất dinh dưỡng cho bản thân mà thôi.

USPSTF vẫn duy trì đề nghị phụ nữ trên 65 tuổi và phụ nữ trẻ có rủi ro bị nứt xương nên đi truy tầm về chứng rỗng xương. Ngoài ra USPSTF cũng đề nghị dùng thêm vitamin D đối với người lớn 65 tuổi trở lên vốn dễ có rủi ro bị té ngã, cũng như với người mà cơ thể bị thiếu vitamin D hoặc đã bị ngã trước đây. (TP)

 
Leave a comment

Posted by on March 4, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags:

Gallery

Đường Là Sát Thủ Lặng Lẽ, Tăng Tốc Bệnh Tiểu Đường

Đường Là Sát Thủ Lặng Lẽ, Tăng Tốc Bệnh Tiểu Đường

WASHINGTON — Đường là lý do làm bùng nổ toàn cầu bệnh tiểu đường loại 2, theo lời các nhà nghiên cứu tại đaị học y khoa ở Stanford University.

Mập phì thường được dẫn ra như động cơ chính của bệnh tiểu đường. Nhưng một cuộc nghiên cứu mới cho thấy thực sự chất đường mới là tiền dẫn cho bệnh tiểu đường.

Kết quả nghiên cứu đăng trên tạp chí khoa học Plos One không hề nói rằng đường gây ra mập phì, nhưng đường là yếu tố đi sát cánh với bệnh tiểu đường.

Cuộc nghiên cứu hướng dẫn bởi GS Sanjay Basu tại Stanford University so sánh về yếu tố đường và tỷ lệ bệnh tiểu đường từ 175 quốc gia trong thập niên vừa qua.

Những quốc gia nào dân chúng dễ tiếp cận với đường ngoaì thị trường, bệnh tiểu đường nhiều thêm.

Cứ thêm mỗi 150 calories mà người dân ở quốc gia đó có từ tất cả các nguồn, thì mức độ lan rộng bệnh tiểu đường tăng 0.1%.

Nhưng nếu 150 calories đó tới từ đường — số lượng này tương đương một lon 12-ounces nước ngọt – thì tỷ lệ bệnh tiểu đường tăng vọt, với mức tăng 1.1%.

Kết quả cũng thấy là các nước được gọi là “dư thừa đường,” bệnh tiểu đường đông hơn; và ngược lại, ở các nước hiếm đường, tỷ lệ bệnh tiểu đường giảm.

Basu nói kết quả không chứng minh rằng đường gây ra mập phì, mà chỉ cho thấy đường ảnh hưởng tới gan và tụy tạng ở những cách mà các loại thực phẩm khác không ảnh hưởng như thế.

Sugar Nutrition UK, hội các nhà sản xuất đường Anh Quốc, nói rằng cuộc nghiên cứu bất toàn, vì dân Anh tiêu thụ đường giảm 6% trong thập niên qua nhưng thời gian này bệnh tiểu đường đã tăng gấp đôi.

Tuy nhiên, bác sĩ Aseem Malhotra, chuyên ngành tim ở Học Viện Y Tế Quốc Gia NHS, nói cuộc nghiên cứu đưa thêm dầu vào lửa rằng đường thực sự là “một sát thủ thầm lặng” và độc lập với cân nặng cuả cơ thể.

(Theo báo Người Việt)

 
Leave a comment

Posted by on March 4, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags:

Gallery

Ít người Mỹ hiểu rõ những rủi ro do mập phì gây ra

Ít người Mỹ hiểu rõ những rủi ro do mập phì gây ra

Theo một thăm dò do The Associated Press – NORC Center for Public Affairs Research mới thực hiện gần đây, ít người Mỹ ý thức được rằng, dư cân có thể gây ra các bệnh như ung thư, đau khớp, ngạt thở khi ngủ, và ngay cả hiếm muộn, hoặc nếu đã mắc sẵn thì chúng sẽ trở nên tệ hại hơn.

Một phần tư người Mỹ tin rằng người ta có thể dư cân nhiều nhưng vẫn cứ mạnh khỏe như thường.

Ðược hỏi hậu quả nghiêm trọng nhất do mập phì là gì, bảy trong mười người Mỹ nói đúng là dẫn đến tiểu đường và đau tim. Bệnh đau tim là sát thủ hàng đầu ở Hoa Kỳ, trong khi tiểu đường và mập phì là hai đại dịch mà chúng tiếp tục không ngừng gia tăng trong những năm gần đây.

Bà Jennifer Dimitriou, chuyên gia dinh dưỡng về bệnh mập thuộc Montefiore Medical Center ở New York, nhận xét: “Nhiều người kinh ngạc khi được biết mập phì lại có thể đưa đến hậu quả xa như vậy.”

Chỉ 7% số người được thăm dò tin rằng mập phì khiến người ta bị ung thư, mặc dù từ lâu giới y sĩ đã biết rõ, mỡ gia tăng nguy cơ phát triển bệnh ung thư đường ruột, vú, nhiếp hộ tuyến, tử cung và ở một số cơ quan nội tạng khác. Hơn nữa quá mập khiến khó truy tầm được sớm các vết ung thư để mà chữa trị kịp thời.

15% người được phỏng vấn nói, có biết dư cân khiến gây nên chứng đau khớp, nhất là ở đầu gối. Ðây là cái vòng luẩn quẩn oái oăm vì đau đớn ở các khớp làm người ta khó có thể tập thể dục để giúp giảm bớt cân.

Cao máu, cao mỡ, hiếm muộn và trụy tim là các chứng ít ai biết cũng là hậu quả của dư cân.

Cũng vậy, chỉ 5% biết dư cân đưa đến các vấn đề về đường hô hấp. Nghiên cứu còn cho thấy người dư cân có nhiều nguy cơ bị chứng ngạt thở khi ngủ (sleep apnea), kể cả bệnh suyễn, và rằng giảm cân khiến những triệu chứng này được nhẹ hơn.

Bà Dimitriou nói, hiểu được tác dụng ghê gớm của mập phì người ta mới cố gắng làm thế nào để có được cuộc sống lành mạnh hơn, bằng cách vận động cơ thể và ăn uống có chừng mực.

Tuy nhiên chỉ 52% được thăm dò nói họ có tham khảo với bác sĩ về các nguy cơ do dư cân mang đến.

Một điểm phức tạp khác nữa là, phân nửa người Mỹ tin rằng cân lượng của họ như vậy là được rồi, và chỉ 12% bậc phụ huynh tin rằng con cái họ bị dư cân, dù rằng con số do chính phủ đưa ra cho thấy, hết hai phần ba người Mỹ ở tuổi trưởng thành, và một phần ba trẻ con và thanh thiếu niên, đang trong tình trạng dư cân hoặc mập phì.

Bà Dimitriou nói: “Nếu quí vị sống chung quanh những người thân mà hầu hết đều bị dư cân, ắt quí vị sẽ nghĩ ngay rằng tình trạng của mình chỉ là bình thường.”

Cuộc nghiên cứu của AP – NORC Center được thực hiện trong thời gian từ 21 Tháng Mười Một đến 14 Tháng Mười Hai, qua cuộc phỏng vấn với 1,011 người lớn trên toàn Hoa Kỳ, với sai số trong khoảng cộng hoặc trừ 4.2%. (T.P.)

 
Leave a comment

Posted by on February 4, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags:

Gallery

Máy đo ORP tính khử Oxy hóa

kg-orpHầu như tất cả các chất lỏng có một tiềm năng giảm oxy hóa (ORP), đó là tiềm năng của một chất làm giảm quá trình oxy hóa của một chất khác, được xác định bằng mV. Phép đo tính toán số lượng của các điện tử phụ (ion âm) hoặc thêm proton (ion dương). Nói cách khác, chất chống oxy hóa mạnh mẽ hơn, thấp hơn mức độ ORP (nhiều electron). ORP thể được đo một cách dễ dàng với một đồng hồ hiệu chuẩn ORP .

Một điện áp đơn được gọi là tiềm năng giảm oxy hóa, một điện áp dương cho thấy một giải pháp thu hút các điện tử (oxy hóa). Ví dụ, nước clo sẽ hiển thị một giá trị ORP dương tính trong khi sodium sulfite (một chất khử) mất electron và sẽ hiển thị một giá trị ORP âm.

ORP được đo bằng mV, mà không điều chỉnh theo nhiệt độ dung dịch. Giống như pH, ORP không đo lường nồng độ trực tiếp, nhưng đo bằng mức độ hoạt động. Trong một dung dịch chỉ có một thành phần hoạt động, ORP chỉ tập trung như đo với pH, một dung dịch pha loãng sẽ cần thời gian để tích lũy một tích điện đo lường được.

ORP có một bộ cảm biến sử dụng một bề mặt bạch kim nhỏ tích lũy điện tích mà không cần phản ứng hóa học. Điện tích được đo liên quan đến dung dịch, do đó, dung dịch điện áp “ground” sử dụng giống như một bộ cảm biến pH.

orpmonitorNước máy thông thường ORP đo được từ +250 để +400, điều đó có nghĩa là tiềm năng của nó để giảm quá trình oxy hóa là không tồn tại. Chỉ có ORP âm mới có thể giảm hoặc loại bỏ quá trình oxy hóa. Nước ion hóa Alkaline có ORP từ -50 đến -800, tùy thuộc một phần vào số lượng khoáng chất trong nguồn nước, chất lượng điện giải của máy, và cách chế tạo của công ty.

Các xét nghiệm cho thấy rằng nước khoáng đóng chai có một ORP trung bình khoảng 200 mV.

Nước Kangen ORP đo được từ -400mV đến -800mV.

 
Leave a comment

Posted by on January 22, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags: ,

Gallery

Khả năng chống oxy hóa đo bằng ORP

imagesĐây là thước đo cơ bản của điện tích phân tử cho biết mức độ của một chất bị oxy hóa hoặc tiềm năng làm giảm quá trình oxy hóa.

Một giá trị ORP dương biểu thị rằng chất này là một chất bị ôxi hóa. ORP mang giá trị dương càng cao khả năng bị oxy hóa càng nhiều. Hiện tượng ôxi hóa liên quan đến việc trao đổi các điện tử giữa hai nguyên tử. Nguyên tử nhận electron thì bị oxy hóa. Trong quá trình tái sản xuất tế bào, những tế bào bị hư hại hoặc bị thay đổi tái tạo sinh ra quá trình lão hóa và thoái hóa.

Một giá trị ORP âm biểu thị khả năng cho các điện tử, giá trị âm càng cao thì khả năng cung cấp các điện tử cho nguyên từ khác càng lớn. Đây là tiềm năng là một chất chống oxy hóa. Gốc tự do là chất oxi hóa và khả năng để ôxi hóa là loại bỏ hoặc giảm bằng việc bổ sung các các điện tử từ các nguyên tử với một giá trị âm ORP. Các chất có giá trị âm ORP cao được gọi là chất chống oxy hóa mạnh.

ORP (giá trị âm) của thức ăn hoặc đồ uống, tiềm năng lớn, nó có  thể đảo ngược quá trình lão hóa của cơ thể ở cấp độ tế bào.

Nước trái cây tươi:

Nước cam nguyên chất có ORP 250 mV. Tất cả rau tươi ép  và nước trái cây và rau quả có ORP âm.

Vì vậy, chúng được coi là chất chống oxy hóa vì chúng có khả năng làm giảm quá trình oxy hóa trong cơ thể. Tuy nhiên, nếu những loại nước ép được đun nóng trên 118 F (47.7 độ C), tiệt trùng hoặc chế biến bằng nhiều cách khác nhau, khả năng chống oxy hóa đã vô tình bị phá hủy. Trên thực tế, tất cả các thuộc tính trẻ hóa của nó bị loại bỏ và thực phẩm chỉ được chuyển đổi để cung cấp chất bổ dưỡng tạo năng lượng cho cơ thể như calori và giúp tăng tính axit trong cơ thể.

Enzymes phải có mặt trong thực phẩm để thực sự được coi là một chất trẻ hóa. Đây cùng một nguyên tắc thật sự giống như nước điện phân. Khi bị nung nóng, điện tích âm sẽ nhanh chóng bị mất đi bởi vì, các electron rất mỏng manh, rất dễ bị phá hủy. Electron nhẹ hơn proton (hạt nhân nguyên tử) đến hàng ngàn lần, do đó chúng dễ dàng phát tán và phân tán hơn proton. Tuy nhiên, những thuộc tính khác của nước ion hóa như độ kiềm, giảm kích thước cluster phân tử của nước vẫn còn nguyên vẹn ở một mức độ lâu hơn thời hạn ..

Khi một chất bị oxy hóa, giá trị ORP đo được của chúng tăng. Quá trình oxy hóa nghĩa là phản ứng với oxy. Rỉ sét là kim loại đã bị oxy hóa, đó là một ví dụ về oxy hóa chậm. Sự cháy là một ví dụ về quá trình oxy hóa nhanh. Trong quá trình oxy hóa của con người, cơ thể gây ra một phần, bởi hư hại gốc tự do (free radical). Các phân tử ôxy không ổn định cướp các điện tử, gây ra quá trình oxy hóa, dẫn đến lão hóa và bệnh tật. Bất cứ lúc nào chúng ta đưa một chất có một điện tích dương vào cơ thể, chúng ta gia tăng quá trình oxy hóa của cơ thể và do đó đẩy nhanh quá trình lão hóa. Cùng với tuổi tác, giá trị ORP của cơ thể chúng ta sẽ liên tục tăng lên. Tốc độ oxy hóa của cơ thể liên quan trực tiếp chế độ ăn uống của chúng ta và các chất khác mà chúng ta đưa vào cơ thể. Môi trường cũng trực tiếp góp phần vào quá trình oxy hóa của cơ thể. Di truyền học không xác định tỷ lệ của quá trình oxy hóa của cơ thể.

Một môi trường ô nhiễm sẽ làm tăng quá trình oxy hóa của cơ thể bằng cách tạo ra các gốc tự do (free radical). Môi trường ô nhiễm có chứa rất nhiều các ion dương bất lợi cho sức khỏe của chúng ta. Khi chúng ta hít thở không khí ô nhiễm, chất độc được bơm trực tiếp vào máu qua đường hô hấp. Nước kangen có giá trị âm ORP (-400mV -800mV) bù vào ORP dương của oxy hóa lão hóa cơ thể. Vì vậy, chúng ta chống lại sự lão hóa bằng cách uống ít nhất 1-2 gallon nước mỗi ngày. (4-8 lit nước).

Sức khoẻ con người là sức khỏe tế bào.Nếu các tế bào của cơ thể không lành mạnh thì chúng ta không thể khỏe mạnh được.

 
1 Comment

Posted by on January 21, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags: , ,

Gallery

Gốc tự do và lão hóa

Oxi hóa (lão hóa) là gì?

free-radicalsOxi được biết đến là một nguyên tố không thể thiếu để đảm bảo sự sống, nhưng bên cạnh đó, nó cũng có thể hủy hoại sự sống. Chúng ta có thể thấy được rõ tác hại này qua sự gỉ sét, hay còn gọi là sự oxi hóa. Những quá trình tương tự như vậy cũng xảy ra trong cơ thể theo từng nhịp thở của chúng ta.

Cơ bản, quá trình oxi hóa giải phóng ra các gốc tự do. Chúng gây ra những tổn hại cho tế bào bằng cách chiếm đoạt những điện tử của những phân tử bên cạnh chúng, gây tổn hại các chức năng của tế bào, đẩy nhanh quá trình lão hóa và gây nên rất nhiều chứng bệnh khác nhau. Cuộc sống hiện đại hiện nay với ô nhiễm môi trường, thuốc lá, stress, những thói quen ăn uống không khoa học… là những nguyên nhân chính gây nên sự hình thành các gốc tự do.

Gốc tự do

“Khái niệm về gốc tự do (Free Radical-FR) được đề xướng lần đầu tiên năm 1954 nhà khoa học Hoa kì D.Harman đưa ra trong luận thuyết về cơ chế tích tuổi (Free Radical Theory of Aging). Gốc tự do là những phân tử hay những mảnh vỡ của phân tử có 1 điện tích đơn lẻ ở quỹ đạo vòng ngoài. Do sự có mặt của điện tử này, các gốc tự do có một thuộc tính đặc biệt quan trọng là có khả năng oxi hóa rất cao. Nếu vì một lý do nào đó, số lượng các gốc tự do tăng cao bất thường, vượt khỏi tầm khống chế bình thường của hàng rào bảo vệ các chất chống oxi hóa (antioxidant-AO) thì chúng sẽ khởi động những phản ứng dây chuyền oxi hóa các chất nền(substraits) trong cơ thể đáng chú ý là các lipid, thành phần cấu tạo của tất cả các màng tế bào.

Các gốc tự do sau khi gây tổn thương màng tế bào, sẽ dẫn đến nhiều tổn thương khác như biến đổi cấu trúc các protein, ức chế hoạt động các men, biến đổi cấu trúc và thuộc tính các nội tiết tố. Đối với những người có tuổi, cần đặc biệt chú ý tới hoạt động của các gốc tự do trong cơ thể. Tổn thương do các gốc tự do gây ra là cơ sở sinh bệnh học của những trạng thái bệnh thường gặp ở những người có tuổi như vữa xơ động mạnh, bệnh tiểu đường, bệnh ung thư….

Gốc tự do nội sinh: Có trong cơ thể do những quá trình chuyển hóa tự nhiên như hô hấp tế bào, diệt khuẩn trông quá trình thực bào, tổn thương các tế bào…
Gốc tự do ngoại sinh: Được hình thành do các yếu tố ngoại lai như ô nhiễm môi trường, uống rượu, hút thuốc lá…
Do có hoạt tính sinh học mạnh nên các gốc tự do có thể thực hiện các phản ứng hóa học, phá hủy hệ thống tế bào dẫn đến khả năng sinh bệnh ung thư, nhồi máu cơ tim, lão hóa.

 
Leave a comment

Posted by on January 21, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags: ,

Gallery

Dân Mỹ Quá Mập, Cần Buộc Dây An Toàn cho vấn đề ăn uống

Nước Mỹ cần tương tự với luật buộc dây an toàn khi nói đến dinh dưỡng, theo Mark Bittman viết trong báo the New York Times.

Qua đó ông ấy muốn nói rằng chính phủ phải cố gắng ngăn ngừa dân từ việc ăn và uống quá nhiều thức ăn qua việc đánh thuế nước ngọt, cấm dầu mỡ, mở vận động liên quan tới công cộng, v.v…

Bạn khó chịu? Tốt đó, buộc dây an toàn là bảo vệ mạng sống, và làm cho người dân sử dụng chúng để tốt đẹp hơn.

Bittman viết rằng, “Nước ngọt giết nhiều người hơn súng – nhiều người hơn tai nạn xe. Điều chúng ta cần là cái tương tự của buộc dây an toàn cho chế độ ăn uống.”

Mối đe dọa sức khỏe công cộng lớn nhất của thời đại chúng ta là chứng bệnh kinh niên có thể ngăn ngừa được, đưa tới tử vong nhiều nhất – hãy nghĩ tới bệnh tiểu đường, bệnh tim, và ung thư. Chúng ta không cần chữa trị, chúng ta cần sự ngăn chận với những chính sách ý nghĩa bình thường.

Ông ấy đặt câu hỏi, “Chúng ta có năng lực để giảm thiểu bệnh hoạn thêm nữa và cải thiện tuổi thọ dài hơn. Ai dám chống lại điều đó?”

 

“When we see something, we should do something. The something we can all see is this: Eating badly – consuming unprecedented amounts of nonfood, like soda – causes obesity. Obesity brings about chronic disease. Chronic disease kills, wrecks lives and wreaks havoc on our health care system and our economy. We have the power, collectively, to further reduce disease and improve longevity. Who’s against that?”

(From Dietary Seatbelt, Mark Bittman, New York Times)

http://opinionator.blogs.nytimes.com/2012/12/18/dietary-seat-belts/?ref=markbittman

 

 
Leave a comment

Posted by on December 24, 2012 in Dinh dưỡng, Sức Khỏe

 

Tags: , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers

%d bloggers like this: