Tag Archives: Acid
HOOCMON- CHỈ SỐ QUAN TRỌNG TRONG CƠ THỂ
Theo các công trình nghiên cứu khoa học gần đây, các đặc trưng kiềm-axit của cơ thể chúng ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sức khoẻ. Tính chất đó được thể hiện rất rõ qua hàm lượng độ pH (còn gọi là hocmon pH) trong máu, nước tiểu, nước bọt, dịch vị dạ dày, ruột non, nước mắt và mồ hôi.
Trong máu: Một trong những tham số quan trọng nhất của trạng thái máu là tính chất kiềm – axít hoặc độ pH (biểu hiện của nồng độ ion hyđro trong dung dịch). Nước sạch khi lọc kỹ các tạp chất có độ pH=7. Đó là nước trung hoà. Nước axit có độ pH nhỏ hơn 7, nước kiềm có độ pH lớn hơn 7. Khi độ pH của máu lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị tiêu chuẩn thì quá trình trao đổi chất sẽ bị ngừng trệ .
Làm thế nào để cơ thể luôn duy trì độ PH trong khuôn khổ nghiêm ngặt đó khi hàng loạt sản phẩm trao đổi chất thường xuyên được đưa vào máu?
Có hai cơ chế bảo vệ. Thứ nhất, trong thành phần của máu có chất platma có khả năng ngăn chặn quá trình axít hoá và kiềm hoá. Thứ hai là nhờ cơ thể có hệ thống bài tiết. Lượng axit và kiềm dư thừa được đào thải qua phổi, thận, tuyến mồ hôi . Vì vậy, việc chăm sóc để phổi , thận và da làm tròn chức năng bài tiết nhằm duy trì độ PH là biện pháp rất quan trọng. Thở dưỡng sinh là một biện pháp xưa nay vẫn được các danh y coi là bí quyết để giữ gìn sức khoẻ, chính là vì nó giúp cơ thể duy trì độ pH trong giới hạn có độ kiềm loãng.
Nước tiểu: Thận có chức năng vừa đào thải chất độc ra khỏi cơ thể, vừa duy trì độ pH của máu. Khi độ pH dịch chuyển về phía axít, thận tăng cường đào thải hàm lượng axit photphat NaH2PO4. Khi đó nước tiểu sẽ có tính axit. Còn nếu máu có tính kiềm, thận sẽ đào thải các muối Na2HPO4 và Na2CO3. Lúc đó nước tiểu có tính kiềm.
Khi con người ăn thịt là chủ yếu, nước tiểu sẽ có tính axit. Còn khi ăn rau, nước tiểu sẽ có tính kiềm. Nếu con người hoạt động thể lực với cường độ cao, trong tế bào cơ bắp sẽ tích tụ hàm lượng axit cao. Các axit đó sẽ đi vào máu và đào thải qua thận. Lúc đó nước tiểu có tính axit. Trong điều kiện sinh hoạt bình thường mà nước tiểu luôn luôn có tính axit thì điều đó chứng tỏ quá trình trao đổi chất bị rối loạn.
Nước bọt: Độ pH trong nước bọt thay đổi trong khoảng 5,8 – 7,4, phụ thuộc vào tốc độ tiết nước bọt. Khi đói và thèm ăn, độ pH có thể lên tới 7,8. Sau bữa ăn no nê, nước bọt có tính axít nhẹ.
Dịch vị dạ dày: Là một loại chất lỏng không màu, trong suốt, chứa 0,3 – 0,5% axit HCl. Mỗi ngày tuyến tiêu hoá trong dạ dày tiết ra 2,0 – 2,5 lít dịch vị có độ pH 1,5 – 1,8. Axít HCl trong dịch vị dạ dày có tác dụng phân hoá các phân tử chất béo để tạo quá trình lên men ở bộ máy tiêu hoá. Axít còn có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh. Các loại gia vị có tính chất chua, cay, đắng đều có tác dụng kích thích tiết dịch dạ dày. Vì vậy khi ăn các thức ăn lạ như rau sống, gỏi cá, thịt tái, người ta thường ăn kèm theo các gia vị trên đây chính là để tăng khả năng sát trùng trong dạ dày .
Nước bọt chứa 99,5% nước (H2O), lượng còn lại là các chất clorua, cacbonat, muối photphat của các nguyên tố Na, K, Ca, Mg và các hợp chất hữu cơ để tạo độ nhớt cho nước bọt và làm giảm ma sát của thức ăn để dễ nuốt. Thành phần và tính chất của nước bọt phụ thuộc vào loại thức ăn. Cơ thể luôn luôn thích ứng khá nhạy cảm để tiết nước bọt thích hợp đối với từng loại thức ăn cụ thể. Đối với thức ăn cứng, nước bọt có độ nhớt cao. Khi thức ăn mềm, nước bọt có độ nhớt thấp để tăng hoặc giảm ma sát .Vì vậy, ăn chậm, nhai kỹ là một lời khuyên có cơ sở khoa học sâu sắc giúp con người tiêu hoá thức ăn với hiệu suất cao.
Nếu trong dạ dày có môi trường axit thì trong đường ruột lại có môi trường kiềm. Để tạo môi trường chuyển tiếp từ dạ dày xuống ruột, tuyến hạ vị trong dạ dày thường tiết ra dịch vị có độ kiềm nhẹ. Khi cơ thể vì một lý do nào đó tiết quá nhiều dịch vị, niêm mạc dạ dày sẽ bị rối loạn.
Ruột non: ở đây, các chất dinh dưỡng prôtein pôlyme được phân rã thành các monome để ngấm qua đường ruột vào máu. Độ PH trong ruột non có giá trị 7,2 – 8,0. Trong hành tá tràng sẽ diễn ra quá trình trung hoà thức ăn có hàm lượng axít cao bằng lượng dịch tiết ra từ tuyến mật và tuyến hạ vị. Trong một ngày, mật tiết ra 1,5 lít dịch chứa các axit amin, vitamin và có độ pH 7,3 – 8,0. Trong ruột già, độ PH lên tới 8,8 – 9,0.
Nước mắt: Độ pH của nước mắt tiết ra khi mắt nhắm lớn hơn so với khi mắt mở và dao động trong khoảng 6,5 – 7,4. Trong nước mắt chứa chủ yếu là muối của các kim loại kiềm.
Mồ hôi: Có thể tìm thấy tất cả các nguyên tố trong bảng tuần hoàn Menđêlêep trong mồ hôi của con người. Mồ hôi có độ PH bằng 3,8 – 5,6. Thành phần hoá học của mồ hôi phụ thuộc vào cường độ tiết dịch (do lao động thể lực nặng, do nhiệt độ không khí xung quanh và thân nhiệt, do trạng thái hoạt động của thận).
Mùi của mồ hôi là dấu hiệu đặc biệt mang dấu ấn thông tin về thể trạng. Ai cũng có thể theo dõi sức khoẻ của chính mình bằng cách xem xét mùi mồ hôi. Một khi mùi của mồ hôi thay đổi khác thường, phải đến gặp bác sỹ ngay để khám nghiệm sức khoẻ. Nên nhớ rằng, các tuyến mồ hôi có tác dụng quan trọng để giữ độ pH cân bằng trong máu. Đó là lý do khiến chúng ta phải luôn giữ cho tuyến mồ hôi trên da được sạch sẽ, thông thoáng .
Lê Minh Quang (Theo “Khimia i Gizn”, 2002)
Một cách nhìn mới về trị liệu Ung Thư
SAU NHIỀU NĂM TUYÊN BỐ RẰNG HÓA CHẤT TRỊ LIỆU LÀ PHƯƠNG CÁCH ĐỘC NHỨT ĐỂ CỐ GẮNG DIỆT TRỪ UNG THƯ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC JOHNS HOPKINS SAU CÙNG ĐANG BẮT ĐẦU NÓI TỚI MỘT PHƯƠNG THỨC TRỊ LIỆU KHÁC NGOÀI HÓA CHẤT.
Trường đại học Johns Hopkins đã đưa ra những dữ kiện mới nhứt về ung thư như sau:
- Trong mỗi cơ thể con người đều có tế bào ung thư. Khi những tế bào ung thư này có rất ít trong cơ thể thì cuộc thử nghiệm thông thường (như thử máu, chiếu điện, v.v……..) không thể nào phát hiện chúng được cho đến khi vài tỷ tế bào ung thư đã được phát triển. Khi bác sĩ cho bịnh nhân ung thư biết rằng cơ thể của người này không còn tế bào ung thư trong cơ thể nữa sau thời gian trị liệu, thì đó chỉ có nghĩa là những cuộc thử nghiệm không phát hiện được những tế bào ung thư vì chúng chưa nhân lên được số lượng cao để có thể khám phá được.
- Tế bào ung thư phát sinh trong cơ thể từ 6 đến hơn 10 lần trong suốt đời người.
- Hệ miễn nhiễm trong cơ thể mạnh sẽ giúp tiêu trừ tế bào ung thư và ngăn ngừa chúng phát triển quá nhiều và hình thành những khối u.
- Việc tế bào ung thư phát sinh trong cơ thể cho thấy cơ thể đó ở trong tình trạng suy kém dinh dưỡng về nhiều mặt. Sự kém sút này có thể là hậu quả của nhiều yếu tố, như di truyền, môi sinh, ăn uống và lối sống.
- Để khắc phục tình trạng này, việc thay đổi chế độ ăn uống kèm theo các thuốc phụ bổ hàng ngày sẽ giúp tăng cường hệ miễn nhiễm cho cơ thể.
- Hóa chất trị liệu (chemotherapy) nhằm đánh độc chất vào tế bào ung thư đang sinh sôi nảy nở mau chóng, nhưng đồng thời cũng tiêu diệt luôn những tế bào lành mạnh đang sinh sôi nảy nở mau chóng trong tủy, trong dạ dày và đường ruột, v.v.. và có thể gây tác hại cho các bô phận như gan, thận, tim, phổi, v.v..
- Xạ quang trị liệu (radiation) cũng nhằm tiêu diệt những tế bào ung thư nhưng cũng đốt cháy, làm tổn hại và gây ra vết sẹo trên các tế bào lành mạnh, những mô và những bộ phận trong cơ thể.
- Việc chữa trị sơ khởi bằng hóa chất và xạ quang lúc đầu sẽ làm tiêu nhỏ các mô u ung thư. Tuy nhiên, kéo dài hai cách chữa trị này sẽ không còn đạt những kết quả tương tự nữa.
- Khi chất độc do hóa chất và xạ quang trị liệu gây ra quá nhiều trong cơ thể, hệ miễn nhiễm sẽ bị tổn hại hoặc bị hủy diệt và do đó bịnh nhân có thể không chống cự lại được các bịnh nhiễm trùng và các biến chứng khác.
- Hóa chất trị liệu và xạ quang trị liệu có thể làm cho những tế bào ung thư biến đổi dạng và trở nên đề kháng và khó bị tiêu hủy được. Phương pháp phẫu thuật cũng có thể tạo điều kiện cho tế bào ung thư phát triển ra các bộ phận khác trong cơ thể.
- Một phương cách chống ung thư hữu hiệu là không nuôi dưỡng tế bào ung thư bằng những thức ăn mà chúng cần để sinh sản ra tế bào ung thư.
Điều này đã được Tiến Sĩ Otto Warburn khôi nguyên Nobel 1931, chứng minh rằng:
“Tất cả tế bào bình thường có một nhu cầu tuyệt đối là cần phải có oxy, nhưng các tế bào ung thư có thể sống không cần oxy - mà không có một quy tắc ngoại lệ nào”
“Các tế bào ung thư có tính axit, trong khi các tế bào khỏe mạnh mang tính kiềm”.
“Lấy ra 35% oxy của một tế bào trong vòng 48 giờ, tế bào đó có thể trở thành ung thư.”
Nước Kangen mang kiềm tính cao, có khả năng khử Ô-xy hóa mạnh mẽ. Khi uống nước Kangen, chúng ta đã đưa một lượng kiềm cao để trung hòa lượng axit dư thừa đến tận tế bào (vì nước chiếm đến 75%) của cơ thể.
Như đã đề cập ở phần #1 và #2, cơ thể chúng ta đang khỏe mạnh, thế nhưng trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống, có thể tế bào đã nhiễm ung thư mà chúng ta không hề hay biết. Hệ miễn nhiễm suy yếu dần, đến một lúc nào đó, sẽ phát bệnh ung thư.
Uống nước Kangen hàng ngày là biện pháp hữu hiệu nhất đế duy trì độ kiềm ổn định một cách liên tục, cung cấp một lượng Oxy dồi dào, giúp tế bào của chúng ta luôn luôn khỏe mạnh, tiêu diệt ngay tất cả các tề bào ung thư trong cơ thể.
Xin xem thêm:
SAU ĐÂY LÀ NHỮNG THỨC ĂN MÀ TẾ BÀO UNG THƯ CẦN ĐỂ SINH SẢN:
- Đường: Việc bỏ hẳn không ăn đường sẽ cắt đứt nguồn tiếp tế chất ngọt quan trọng cho tế bào ung thư. Các loại đường hóa học như NutraSweet, Equal, Splenda, Spoonful, v.v.. được làm bằng chất hóa học Aspartame rất có hại. Chất ngọt thiên nhiên rất tốt là mật ong hay mật mía, nhưng nên ăn rất ít.
- Muối: Muối có màu trắng là do được chế biến bằng một chất hóa học. Tốt hơn nên ăn thứ muối có tên Bragg được chế biến bằng chất aminos, hoặc muối biển Celtic (đến từ vùng Celt, xứ Wales).
- Sữa: Sữa giúp cơ thể sản xuất chất nhờn, nhứt là trong dạ dày và đường ruột. Chất nhờn này là thức ăn của ung thư. Hãy thay thế sữa bằng loại sữa chưa được xử lý cung cấp thẳng từ thú vật) để tế bào ung thư không có được nguồn thức ăn được xử lý này để sinh sản.
- Thịt: Tế bào ung thư phát triển nhanh trong một môi trường axít. Thịt là thức ăn gây ra axít và tốt nhứt là nên ăn cá và một ít thịt gà thay vì thịt bò và thịt heo. Thịt chứa các loại thuốc kháng sinh dùng nuôi gia súc, chất kích thích tăng trưởng và các vật ký sinh, vì vậy rất có hại cho sức khỏe, nhứt là bịnh nhân ung thư.
- Một chế độ ăn uống với 80% rau cải tươi (rau xanh, khoai, đậu v.v.), nước cốt trái cây, ngũ cốc chưa được tinh chế, các loại hạt, quả hạch (nuts) và ít trái cây sẻ giúp cơ thể sống trong một môi trường có chất kiềm (alkaline). Còn lại 20% có thể gồm các thức ăn được nấu chín, kể luôn cả các loại đậu. Nước cốt rau cải tươi cung cấp enzymes sống (enzymes: hóa chất hữu cơ được tạo thành trong tế bào sống và tham gia vào các biến đổi hóa học) cho cơ thể, được thẩm thấu dễ dàng và chảy xuống các lớp tế bào trong vòng 15 phút để nuôi dưỡng và giúp vào việc tăng trưởng của những tế bào lành mạnh. Để có được enzymes sống có ích cho việc phát triển tế bào lành mạnh, hãy cố gắng uống, 2 hoặc 3 lần mỗi ngày, nước cột rau cải tươi (gồm cả giá sống) và đem rau cải tươi vào bữa ăn hàng ngày. Nên nhớ nhiệt độ 104 độ F (hay 40 độ C) sẽ hủy diệt enzymes.
- Tránh uống càfe, trà và các loại sô cô lát được chế biến vì các thứ này chứa nhiều chất kích thích. Tốt nhứt là trà xanh, loại trà có đặc tính chống ung thư.
Tránh uống nước máy thành phố vì nước này chứa nhiều độc tố và kim loại và thay thế bằng nước lọc rất tốt. Cũng nên tránh uống nước cất (distilled: cùng một phương pháp cất rượu). Uống 8 ly nước, hay nhiều hơn nữa, mỗi ngày sẽ giúp tẩy tế bào ung thư ra khỏi cơ thể. - Chất đạm từ thịt rất khó tiêu hóa và đòi hỏi số lượng enzymes cao để làm tiêu hóa. Thịt không tiêu hóa được còn tồn lại trong ruột sẽ bị thối rữa và dẫn đến tình trạng tồn chứa nhiều độc tố hơn nữa trong cơ thể.
- Chất đạm từ thịt đóng cứng vào thành vách của tế bào ung thư. Một chế độ ăn không có thịt hoặc ít thịt sẽ tạo thêm nhiều enzymes hơn để tấn công vào thành vách của tế bào ung thư và tạo điều kiện cho tế bào sát thủ (killer cells) có sẵn trong cơ thể tiêu diệt tế bào ung thư.
- Một vài thuốc phụ bổ (như IP6, Flor-essense, Essiac, thuốc chống oxy hóa, các loại sinh tố, các khoáng chất, EFA, v.v..) có lợi ích tăng cường hệ miễn nhiễm, góp phần trợ giúp tế bào sát thủ tiêu diệt tế bào ung thư. Các thuốc phụ bổ khác như sinh tố E tạo điều kiện cho cơ thể loại bỏ những tế bào bị tổn hại hoặc không cần thiết ra khỏi cơ thể.
- Ung thư là một chứng bịnh của tâm trí, thể xác và tinh thần. Một tinh thần năng động và tích cực sẽ giúp bịnh nhân ung thư chiến thắng chứng bịnh hiểm nghèo và sống còn. Buồn giận, cố chấp không tha thứ và luôn cay đắng sẽ đẩy cơ thể vào một trạng thái căng thẳng và bị tác hại bởi axit độc hại. Hãy tìm cách phát huy một tinh thần vị tha và đầy tình yêu thương. Hãy tập sống với một trạng thái thư giãn và vui hưởng mỗi phút giây của đời sống.
- Tế bào ung thư không thể sống và phát triển trong một môi trường đầy khí oxy. Luyện tập thân thể hàng ngày và thở hít thật sâu sẽ giúp đem thêm khí oxy xuống tận các lớp tế bào. Đấy cũng là một phương cách trị liệu nữa nhằm tiêu diệt tế bào ung thư.
Một vài điều nên biết trong việc phòng ngừa ung thư:
- Không nên hâm nóng trong microwave thức ăn nước uống chứa trong bình plastic.
- Không nên để vào tủ đông (freezer) các chai nước uống bằng plastic.
- Không nên hâm nóng trong microwave thức ăn bọc trong plastic mỏng.
Nguồn gốc của sự sống – Nước
Không có một sinh vật nào (hoặc là sống trong nước hay sống trên đất liền), lại có thể sống mà không cần đến nước. Không một tế bào cơ thể nào có thể tồn tại mà không có nước.
Do vậy, lý thuyết sinh học mang tính sáng tạo và được chấp nhận nhất, đó là sự sống được khởi nguồn từ biển cả. Điều thú vị khi nhận ra rằng, trong chữ tượng hình của Trung quốc thì từ Hải ( ) – gồm có ba chữ kết hợp lại:
Thuỷ ( ) Nhân ( ) và Mẫu ( )
Từ ngữ này có nghĩa rằng Biển cả (Hải) là Mẹ (Mẫu) của con người (Nhân). Từ thuở ban đầu, các cấu trúc đơn bào được hình thành từ biển, được biển nuôi dưỡng – có lẽ khoảng ba tỉ năm trước đây.
Biển là môi trường hoàn hảo cho các tổ chức đơn bào nguyên thuỷ; vì nhiệt độ nước thuở đó là rất nóng. Có nghĩa rằng nhiệt độ nước biển chỉ giảm đi do chịu tác động của thời tiết, khí hậu và địa điểm. Hơn nữa, nước là chất hoà tan mạnh, vì vậy có chứa nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho sinh vật. Sau đó, do có sự thay đổi về thời tiết và thực phẩm, một số đơn bào biến đổi thành cá, có tổ chức đa bào phức tạp hơn. Khi điều này xảy ra thì các tổ chức đã đưa nước biển xen vào giữa các tế bào và bên trong các tế bào (vì một số tế bào không tiếp xúc được với nước biển bên ngoài) – có nghĩa rằng những tế bào này không lấy được thức ăn và không loại bỏ được chất thải. Bằng cách đưa nước biển vào bên trong, các tổ chức đa bào mới, có thể sống được trong biển, giống như cách mà các tổ chức đơn bào đã sống; bởi vì “nước biển bên trong” có thành phần cấu tạo giống như nước biển bên ngoài. Tuy nhiên, ngày nay nước biển mặn hơn dịch ngoại bào của chúng ta rất nhiều, vì nước biển đã trải qua hàng tỉ năm bốc hơi nên cũng mặn hơn rất nhiều. Nước biển mặn đến nỗi ta không thể dùng làm nước uống được. Nếu uống nước biển sẽ làm tăng áp suất thẩm thấu cho đến khi chúng ta mất đi chất lỏng bên trong, mất nước và sẽ chết. áp suất thẩm thấu rất quan trọng để duy trì lượng nước thường xuyên trong cơ thể. áp suất thẩm thấu là do nước có khả năng hoà tan mạnh mà có.
Một hoá tính quan trọng nữa của nước là ion hoá. Hiện tượng ion hoá xảy ra khi một nguyên tử bị mất điện tử, hoặc nhận thêm điện tử khác. Điều này xảy ra trong dung dịch nước. Thí dụ khi muối (Nacl) hoà tan trong nuớc, thì Cl nhận điện tử từ nguyên tử Na và trở thành nguyên tử tích điện âm (gọi là ion âm). Mặt khác, khi Na mất điện tử trở thành tích điện dương thì được gọi là ion dương.
Vì các nguyên tố khi ion hoá đều có tính linh hoạt; nói chung, các nguyên tố gây phản ứng hoá học được coi là ion hoá. Vì nước tạo ra ion hoá, không có nước, cơ thể sẽ ngưng phản ứng hoá học và có nghĩa là chết.
Việc biến đổi thành các tổ chức đa bào là sự thay đổi lớn trong sự sống, bởi vì trong các tổ chức đa bào thì các tế bào riêng lẻ bắt đầu mang tính chuyên dụng. Một số trở nên vô sinh và chỉ hoạt động theo chức năng lưu chuyển và nhu cầu thực phẩm; trong khi những tế bào khác lại duy trì điều kiện ban đầu là tái sinh tế bào. Một số tế bào tái sinh mang tính chuyên dụng cao (trứng và tinh trùng), trong khi những tế bào khác chỉ duy trì khả năng nguyên thuỷ theo cách phân chia tế bào.
Nói cách khác, trong toàn bộ các tế bào đã hình thành sự khác biệt về chức năng, có thể phân biệt chúng với các tế bào riêng lẻ; đồng thời cũng tạo bước tiến đầu tiên trong cấu tạo của một động vật phức tạp do bị mất khả năng tái sinh. Sự phân chia tế bào cơ thể theo hướng ngày một phức tạp; và qua quá trình lâu dài, tiến tới hình hài như con người hiện nay.
Sự thay đổi quan trọng khác đã dẫn tới hình thành các tổ chức đa bào; đó là việc bắt đầu đưa môi trường bên ngoài (biển) vào trong cơ thể, như tôi đã nêu ở trên. Những tế bào mô này không bị ảnh hưởng gì đối với mọi sự thay đổi của thức ăn được hấp thụ trực tiếp, của nước và ôxi từ môi trường xa, hoặc hấp thụ từ chất thải do hoạt động mà có. Việc phát triển dòng chảy trong cơ thể là điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận nguồn cung cấp và đào thải: đó là máu và dịch mô. Sự hình thành hệ thống tuần hoàn, các sinh vật đòi hỏi sự tự do nhiều hơn ở những tổ chức đơn bào, và rồi phát triển thành những sinh vật phức tạp hơn, như là cá.
Một số cá mang tính Dương hơn (tôi sẽ giải thích sau), phát triển khả năng lấy ôxi từ trong không khí, mà không phải từ nước. Chúng trở thành loài lưỡng cư. Thoát khỏi nước, lên cạn đó là sự thay đổi lớn thứ hai trong đời sống động vật. Do môi trường mới có sự thay đổi về nhiệt độ, độ ẩm, hàm lượng ôxi; điều kiện thực phẩm cũng thay đổi, cả về chất lượng và số lượng. Sự thay đổi về điều kiện môi trường và thực phẩm, đã tạo ra tính phức tạp của cấu trúc cơ thể và chức năng của các tế bào chuyên dụng (chức năng) của động vật, nên đã hình thành các cơ bắp phát triển cao; hình thành các cơ quan, hệ thần kinh và tuyến dịch, bao gồm cơ quan tiêu hoá, tuần hoàn, hô hấp và cơ quan loại bỏ độc tố, chất thải. Kết quả là động vật có thể duy trì được điều kiện bên trong ổn định hơn trước. Chúng đã được cung cấp các thần kinh liên kết và hệ tuyến.
Các cơ quan, môi trường nội dịch và tế bào đều có sự phụ thuộc lẫn nhau. Đối với các tổ chức đa tế bào và các sinh vật cao cấp – theo tôi, chúng đều có cả ba mối quan hệ phụ thuộc nhau như trên. Nếu một trong ba kém hoạt động, hoặc hư hoại thì những cái còn lại sẽ chết. Tuy nhiên, đối với những sinh vật đơn giản nhất, những tổ chức đơn bào, chất dịch đều có nguồn gốc ở bên ngoài, và đó là gốc của tế bào. Điều kiện và cấu tạo của chất dịch đã sản sinh ra tế bào đầu tiên (Đây không phải là thuyết sinh học hiện đại, mà là ý kiến của một số nhà sinh học, kể cả bác sĩ K. Chishima).
Theo tôi, điều kiện và cấu tạo của dịch cơ thể, đặc biệt là máu là yếu tố quan trọng nhất của sự sống, của sức khoẻ chúng ta. Trong cơ thể người, các cơ quan như thận, gan và đặc biệt là đại tràng có chức năng loại bỏ chất thải và độc tố để duy trì môi trường bên trong có điều kiện lý tưởng cần thiết. Tuy vậy có sự hạn chế.
Nếu ta ăn quá nhiều thứ sản sinh ra độc tố, hoặc không đủ chất cần thiết để đào thải độc tố thì môi trường bên trong trở nên hoạt động kém hiệu quả, dưới điều kiện cần thiết để các tế bào cơ thể có thể tồn tại. Các tế bào trở nên bệnh và chết. Có nhiều bệnh chỉ là do một chức năng làm sạch môi trường bên trong. Ung thư là điều kiện, trong đó các tế bào cơ thể trở nên khác bình thường, do điều kiện khác thường của dịch cơ thể.
Vậy cái gì là điều kiện cho dịch cơ thể, kể cả máu? ở đây muốn nêu rằng, cái gì giúp vào việc giữ cân bằng giữa axit và kiềm? Dịch cơ thể là kiềm nhẹ; bác sĩ Walter Cannon đã chỉ rằng: “Điều quan trọng nhất để duy trì sự tồn tại và hoạt động của các tế bào là lượng axit và kiềm trong máu không được thay đổi ở mức đáng kể”. Điều này còn được áp dụng trong các dịch ngoại bào
Herman Aihara
Phạm Đức Cẩn biên dịch
Lý Thuyết Herman Aihara
Có một lần, Herman Aihara kể cho tôi và các bạn tôi nghe khi ông hỏi Ohsawa nên làm gì nếu ông sang Mỹ. Ohsawa đã bảo Aihara nên nghiên cứu hai lĩnh vực: Tam tự kinh và khoa học. Và theo thời gian, Aihara ngày càng quan tâm đến khoa học. Ở Nhật, ông đã tốt nghiệp đại học ngành luyện kim, nhưng ông lại chuyển sang nghiên cứu và nổi tiếng ở lĩnh vực sinh học của con người.
Aihara đặc biệt quan tâm đến lý thuyết nguyên thủy của Ishizuka, người thày của Ohsawa. Ishizuka xây dựng lý thuyết của mình dựa trên tỷ lệ Na/K của thực phẩm và quan hệ của nó với sức khỏe. Ohsawa đã phát triển lý thuyết này thành lý thuyết Tân Thực dưỡng, thay tỷ lệ Na/K bằng thuyết âm dương. Ohsawa cũng nói về axit và kiềm, sự liên quan đến độ pH của máu và dịch thể. Aihara thì đặc biệt đã trở thành một chuyên gia về lĩnh vực này.
Aihara phát hiện ra rằng các bài giảng của Ohsawa về kiềm và axit còn sơ sài và chưa hoàn chỉnh. Ohsawa cho axit là âm và kiềm là dương. Aihara chưa thỏa mãn và đã nghiên cứu riêng về lĩnh vực này và công bố các kết quả nghiên cứu của mình trong cuốn sách bán chạy nhất. Đó là cuốn “Axit và kiềm”. Trước khi mất năm 1998, Aihara đã kịp bổ sung và hoàn thiện nốt các phát hiện mới nhất sau 10 năm kể từ lần xuất bản lần thứ nhất và bổ sung nó vào lần tái bản thứ hai.
Khi giảng dạy về Thực dưỡng nhiều năm, Aihara thấy người phương Tây thờ ơ và chán chường với luận thuyết âm dương trong thực phẩm. Họ phân vân là lý thuyết này nghe buồn ngủ quá, nó cứ lặp đi lặp lại mãi chuyện cái này âm, cái kia dương. Aihara nghĩ rằng nếu thuyết âm dương đề cập sai về vấn đề kiềm và axit thì sẽ hợp với con người hiện đại hơn. Do đó ông dành toàn bộ phần cuối cuộc đời mình để nghiên cứu và kết nối luận thuyết axit và kiềm với thuyết âm dương. Nhiều người cho rằng ông là người phi Thực dưỡng và nặng về nghiên cứu năng lượng. Nhưng người ta đã hiểu nhầm Aihara. Nhưng dần dần, lý thuyết của Aihara ngày càng sáng tỏ và có giá trị. Trong việc thực hành Thực dưỡng của mình và trong các lớp giảng tôi thấy thuyết axit và kiềm là một công cụ giảng dạy hữu hiệu. Tôi được vinh dự nghiên cứu cùng Aihara. Aihara đã phát triển nó và chỉ cho chúng ta cách để ứng dụng lý thuyết này trong đời sống hàng ngày.
Tôi xin tóm lược những ý chính của thuyết này như sau:
1. Chúng ta được tự do ham thích tâm linh, nhưng cơ thể vật lý không cho phép như vậy. Vì cơ thể ta có những giới hạn của nó. Bạn không thể ham thích tâm linh vô biên trong một cơ thể hữu hạn này. Mỗi chúng ta đều có một vạch chỉ giới mà ta phải sống trong nó, bao gồm khí trời, ôxy, nước, thực phẩm để duy trì nhiệt độ và nhịp điệu hoạt động của cơ thể.
2. Thông qua một quá trình gọi là “nội cân” (tự cân bằng) mà cơ thể duy trì trong một trạng thái thích hợp nhất với môi trường bên ngoài qua việc điều chỉnh đường trong máu, nhiệt độ, hooc-môn, dịch thể để cơ thể không bị dao động quá mức. Nếu vượt quá ngưỡng, các tế bào và cơ quan sẽ ngưng hoạt động và cơ thể sẽ chết.
3. Không quan trọng bạn là ai và bạn ăn gì, mỗi người đều phải duy trì trạng thái “nội cân” cho mình.
4. Một nhân tố quan trọng của “nội cân bằng” và các giới hạn của cơ thể là sự cân bằng axit và kiềm trong máu và dịch thể.
5. Con người phải biết sống trong các giới hạn này, nếu không sẽ sinh ra bệnh tật. Giống như trời lạnh thì bạn phải mặc áo ấm khi ra đường. Không ai có thể chống đối điều này. Cơ thể chúng ta cần ôxy, nước, không khí, thực phẩm để duy trì sự sống. Bạn không được phép từ chối chúng.
6. Để cơ thể khỏe mạnh, cần giữ độ pH hay tỷ lệ axit/kiềm trong máu phải hơi thiên về kiềm một chút. Cần tránh ăn nhiều đồ có tính axit.
7. Để tránh sự tích tụ axit, cơ thể có hai cách: tự giới hạn lượng axit trung bình trong máu, dùng kiềm đề cân đối lượng axit dư thừa .
8. Chỉ số pH là một con số mà ta có thể đo đếm. Nhiệt độ cơ thể nên duy trì là 98,60F và độ pH là 7,4.
9. Nên điều chỉnh độ pH của máu là 7,4 (máu hơi kiềm tính). Nó duy trì sức khỏe cho tế bào, các cơ quan nội tạng hoạt động hài hòa.
10. Khi chúng ta nhận biết sức khoẻ của mình quá độ pH là sự cân bằng axit/kiềm, chúng ta sẽ tự điều chỉnh cách sống và chế độ ăn uống cho mình.
11. Một bữa ăn giàu chất đạm, chất béo dầu mỡ, đường làm cho máu có nhiều axit. Nhiều quá nó sẽ làm cơ thể bị quá tải.
Aihara đã chỉ ra nhiều chứng bệnh, bao gồm: ung thư, đái đường, đau tim, bệnh tinh thần, đau ốm kinh niên, thấp khớp, nấm, là do chúng ta thiếu sự hiểu biết về việc duy trì tỷ lệ cân bằng axit/kiềm.
Ông cũng chỉ ra cho chúng ta trong cuốn “Axit và kiềm” cách điều chỉnh khẩu phần ăn để thiết lập lại sự cân bằng axit/kiềm. Ông cũng chỉ ra cho chúng ta nên tuân theo lý thuyết âm dương để tạo ra sự cân bằng này.
Aihara thường xuyên dạy: “Bạn có thể tự do suy nghĩ về bất cứ điều gì bạn muốn, nhưng bạn không được tự do làm bất cứ thứ gì bạn muốn. Bạn phải hiểu được sự giới hạn của cơ thể bạn, để sống trong giới hạn đó. Nếu không bạn sẽ bị ốm và bạn sẽ mất tự do”.
Giống như ra đường lạnh thì phải mặc áo ấm, bạn phải ăn uống có hiểu biết để thiết lập lại sự cân bằng axit/kiềm cho chính mình. Điều này sẽ giúp cho bạn tránh khỏi phiền phức và trục trặc về sức khỏe.
Thêm vào đó, Aihara đã dạy tầm quan trọng của việc có được quả thận và lá phổi khỏe mạnh để duy trì tỷ lệ cân bằng axit/kiềm. Ông nói trong các bài giảng về sau của mình rằng sức khỏe sẽ mang bạn tới một sự tự do tâm linh và cân bằng sinh học.
Cân bằng lượng Kiềm trong cơ thể có thể áp dụng nhiều phương pháp khác nhau. Chính yếu là chế độ ăn uống thích hợp. Một trong những phương pháp hữu hiệu nhất là dùng nước kiềm hàng ngày bằng cách uống và nấu ăn hoàn toàn bằng nước kiềm. Bởi vì trong cơ thể chúng ta, nước chiếm tỉ lệ tới 70%, được phân phối khắp nơi trong cơ thể con người, cụ thể là: máu (92%), dịch bao tử (95%), não (85%), cơ bắp (75%), xương (22%), răng (10%)… Nhất cữ lưỡng tiện, khi uống nước kiềm cơ thể vừa được quân bình giữa lượng kiềm và axit môt cách rất tự nhiên và khoa học, vừa đáp ứng được nhu cầu cần thiết là cung cấp nước cho cơ thể.
Nhật bản, một nước đang dẫn đầu thế giới về tuối thọ và sức khỏe con người, cũng là một quốc gia tiên phong áp dụng quan niệm về kiềm trong vấn đề ăn uống đề ngăn ngừa bênh tật. Ờ Nhật, một loại nước kiềm gọi là nước Kangen đã được các nhà khoa học nghiên cứu và đã được áp dụng rất rộng rãi trong nền y tế công cộng Nhật Bản cũng trong đời sống của người dân Nhật. Một tính chất tuyệt vời khác cũng không kém phần quan trọng, đó là tính khử oxy hóa của nước Kangen. Tính Khử Oxy hóa cao có thế bảo vệ tế bào diệt trừ nguồn gốc bệnh tật, đặc biệt là căn bệnh ung thư, đồng thời làm chậm quá trình lão hóa.
Tham Khảo thêm:
2. Nước Kangen và Công Dụng trong đời sống
4. Nước Kangen và chứng nhận Y Khoa Nhật Bản
5. Khử Oxy hóa
AXIT URIC MÁU
TĂNG AXIT URIC MÁU CÓ THỂ GÂY RA HẰNG CHỤC BỆNH KHÁC NHAU
Ngoài việc gây bệnh GOUT, tình trạng tăng axit uric máu có thể gây tổn thương cho nhiều cơ quan như mạch máu, tim, mắt, màng não, cơ quan sinh dục…
Bác sĩ Thái Thị Hồng Ánh, Trưởng khoa Nội cơ xương khớp Bệnh viện Nguyễn Tri Phương, khẳng định, tình trạng tăng axit uric máu trong cộng đồng hiện khá phổ biến. Bằng chứng là mỗi ngày bệnh viện tiếp nhận điều trị vài ca bệnh gút (biểu hiện thường gặp của tăng axit uric), trong khi trước đây chỉ có vài chục ca/năm.
Theo bác sĩ Hồng Ánh, việc tăng axit uric máu có thể gây tổn thương ở nhiều cơ quan. Nếu chúng kết tủa và lắng đọng ở tim mạch thì gây viêm mạch máu, viêm màng ngoài tim; ở vùng đầu gây ra viêm kết mạc, viêm mống mắt, viêm tuyến mang tai, viêm màng não. Nếu kết tủa ở vùng sinh dục, các tinh thể uric gây viêm tinh hoàn, viêm tuyến tiền liệt. Ở thận, chúng gây sỏi urat…Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là bệnh gút, do axit uric kết tủa thành sạn trong khớp, dẫn đến hiện tượng viêm khớp (sưng, nóng, đỏ, đau) tái phát nhiều lần trong suốt đời. Khi mới bị, cơn đau rất thưa, cách 6 tháng, 1-2 năm hay hơn nữa. Nhưng sau vài năm, cơn đau sẽ ngày càng gần lại, dẫn đến biến dạng khớp ở bàn tay, bàn chân… Theo một nghiên cứu tại Hà Lan trong năm qua, người ta ghi nhận những bệnh nhân gút tuổi trung niên thường dễ bị tăng huyết áp (nguy cơ 43%), tăng cholesterol trong máu (5%) và tiểu đường (hơn 50%). Vì thế, các chuyên gia về khớp có một nhìn nhận mới: gút là dấu hiệu sớm của các bệnh tim mạch!
Không phải rượu nào cũng làm tăng nguy cơ bị gútĐó là ý kiến của các chuyên gia y học Mỹ tại Bệnh viện đa khoa Massachusetts. Họ khảo sát 47.000 nhân viên y tế nam trong vòng 12 năm, trong số đó có 730 người phát bệnh gút và nhận thấy, những ai uống 2 lon bia hay nhiều hơn mỗi ngày thì có nguy cơ bị gút gấp 2,5 lần người không uống. Dùng rượu mạnh cũng làm tăng nguy cơ, nhưng chỉ ở mức 1,6 lần. Những ai uống rượu vang với mức độ vừa phải thì không có nguy cơ bị gút.
Người đứng đầu nghiên cứu, tiến sĩ Hyon Choi, nói: “Điều này gợi ý rằng một vài chất trong bia, rượu đã đóng vai trò gây bệnh gút”. Theo ông, “thủ phạm” chính có thể là phức hợp purin, có rất nhiều trong bia và nhất là rượu. Bàn luận về nghiên cứu này, tiến sĩ Qing Yu Zeng thuộc Đại học Y khoa Shantou (Trung Quốc) nói: “Nguyên nhân gây ra gút liên quan đến những yếu tố di truyền và môi trường. Nhưng sự gia tăng tần suất của bệnh hiện nay thì chủ yếu là do yếu tố môi trường, trong đó phổ biến nhất là việc uống nhiều thức uống có cồn”.Giảm đau trong bệnh gút bằng rau trái
Người có bệnh gút phải uống thuốc giảm đau suốt đời, nhưng dù thuốc có tốt đến mấy thì cũng gây ra tác dụng phụ. Để ngăn ngừa điều này, người ta có thể dùng đến một số rau trái có tác dụng giảm đau. Hàm lượng chất giảm đau trong rau trái tuy không đủ để gây tác dụng phong bế cảm giác đau một cách tức thời, nhưng nếu biết cách áp dụng cùng lúc với dược phẩm thì sẽ hỗ trợ tác dụng giảm đau bằng cơ chế cộng hưởng.Đứng đầu là cam, mận Đà Lạt, chanh, đậu Hà Lan, cà chua, sơ-ri, nấm mèo, hoặc nếu có điều kiện hơn thì dùng nho, táo tây, nấm đông cô. Theo các chuyên gia dinh dưỡng Ấn Độ, hai thức ăn rất tốt cho người bị gút là dưa leo và giấm. Món dưa leo xắt lát trộn dầu giấm với chút củ hành và tỏi, nêm bằng muối tiêu có thêm chút mật ong (theo đúng công thức của ngành y học cổ truyền Ấn Độ Ayurveda) nên luôn có trên bàn ăn. Dưa leo và giấm có tác dụng ngăn chặn phản ứng thoái biến chất đạm purin, đồng thời làm tăng bài tiết axit uric.
Nếu chỉ chọn một dạng thực phẩm đóng vai trò chủ chốt trong chế độ dinh dưỡng của người bị gút thì khoai tây là số một! Con người đã có kinh nghiệm dùng khoai tây cho người bị viêm khớp từ thời thượng cổ. Bệnh nhân gút nên tập ăn mỗi ngày vài củ khoai tây luộc vừa chín (tránh luộc quá lâu vì làm thất thoát vitamin C).
(Theo Khoa Học và Đời Sống)
GIẢI PHÁP ‘ALKALIZE’ – TIẾN TRÌNH CỦA TRƯỜNG SINH BẤT LÃO!
Sau kỳ bệnh dịch khắp thế giới vào năm 1920 (Black Death), con người đổ xô tìm cầu phương thức về ‘Trường Sinh Bất Lão’. Truyền thuyết về Shangri-La một lần nữa dấy động khắp Âu-Mỹ. Người Tây Phương bắt đầu đổ xô về Ấn Độ, lần mò lên dãy Hy Mã Lạp Sơn với mục đích tìm hiểu Trường Sinh và Tâm Linh. Bộ Tộc Hunza tọa lạc phía Bắc Ấn Độ, nơi tiếp giáp Afghanistan, Burma, Russia, người dân ở đó thường có tuổi thọ trung bình từ 120-145 tuổi. Đàn bà trên 80 vẫn có thể sanh con; đàn ông trên 90 vẫn có thể làm cha… Một tiêu điểm đáng được chú ý về tuổi thọ cao, ít bệnh tật…
Căn cứ trên nhiều kết quả nghiên cứu, các nhà khoa học đã thấy rằng nguồn nước trên dãy Hy Mã Lạp Sơn có độ pH rất cao ( pH>9) và trong nước có nhiều loại khoáng vi lượng dạng Alkalize. Dùng tắm, uống thường xuyên sẽ giúp cho người tăng tuổi thọ, khỏe mạnh, trẻ trung… phương cách không ngoài quân bình Acid-Alkalize trong cơ thể. Khi biết rằng:’Acid là nguyên nhân của hầu hết mọi căn bệnh’, khoa học gia tìm mọi cách để đưa lượng Alkalize vào cơ thể, hóa giải lượng Acid dư thừa, đem lại trạng thái quân bình giữa Acid-Alkalize.
Đơn giản hơn là dùng cái lý:”Bệnh tật do Acid, hóa giải bằng Alkalize“.
Hơn 80 năm trước, ông George Ohsawa người Nhật (tên thật là Nyoiti Sakurazawa, sanh vào 18-10-1893) đã lừng danh khắp thế giới với phương pháp ‘Zen -Ẩm Thực-Thuật Trường Sinh”, phương pháp ăn uống bằng cách đưa lượng Kiềm vào cơ thể quân bình lại Acid-Alkalize hay quân bình lại Âm Dương. Người Việt chúng ta thường biết với công thức số 7 = Gạo Lức Muối Mè. Chúng ta biết, Acid và Alkalize là 2 mặt tương sinh tương khắc lẫn nhau. Tương sinh nơi chổ nương tựa vào nhau mà phát triển. Tương khắc ở chổ chế ngự lẫn nhau khi cái này tăng cái kia giảm. Ông Ohsawa đã căn cứ vào tỉ lệ của K/Na, Ca/P, vv… để đưa ra quy trình ăn uống thích hợp. Tuy nhiên, vì chế độ ăn uống quá khắc khe và khuôn khổ nên ngày nay không còn thực dụng và khó áp dụng nơi cuộc sống hiện tại.
Ngày nay, khi biết rằng thức ăn động vật (đạm động vật) chứa nhiều Protein, Fat, và nếu những thức ăn này không được tiêu hóa một cách thích đáng thì sẽ tạo nên tình trạng Acidosis (tình trạng gia tăng Acid ở các dịch bào do tích tụ quá nhiều cặn bã hoặc do thành phần đệm ‘buffer’ trong máu bị giảm (bicarbonate -HCO3). Cho nên mọi người đã giảm chế thức ăn động vật và dùng thức ăn thực vật (rau cải, hoa quả). Tuy rằng rau cải , hoa quả có khả năng cung cấp lượng Alkalize cho cơ thể, nhưng vì trong ngày chúng ta không có đủ điều kiện, không đủ thời gian để mua rau cải hoa quả tươi, xay sinh tố… và chỉ có thể đưa vào qua những bữa ăn chính . Trong khi đó mỗi giây, mỗi phút, mỗi một phản ứng Sinh-Hóa, cơ thể thải ra không biết bao nhiêu Acid và cặn bã Acid.
Tuy không thể đưa đủ Alkalize qua các bữa ăn, các thức uống kiểu cọ như Sinh Tố, chúng ta vẫn còn có thể đưa Alkalize vào bằng cách uống nước. Sở dĩ nước uống dạng Alkalize có thể thay thế cho những thứ khác vì nước là chất mà cơ thể dễ hấp thụ và dễ đưa vào nhiều nhất, nhanh nhất trong ngày . Hơn thế nữa, nước lại an toàn nên không gì tốt bằng.
Nước chiếm 60-75% trọng lượng cơ thể.
Nước là dung môi cho các phản ứng hoá học.
Nước là nguồn cung cấp OXY lớn nhất.
Nước trao đổi dinh dưỡng và đào thải cặn bã.
Nước có thể hạ nhiệt, giảm ma sát, và không độc.
Vấn đề ở chổ là Nguồn Nước – như thế nào cho thích hợp: độ Alkalize cao (pH>8.5), nhiều khoáng….
Chúng ta có thể tìm thấy ở nước KANGEN, với những đặc tính tuyệt vời:
1. Độ Kiềm cao (pH: 8.5 – 9.5) cân bằng tính axit trong cơ thể
2. Khả năng chống oxy hóa cao (ORP) đến -400mV với nhiều i-on hydro hoạt tính (OH-) hoạt động hữu hiệu trong từng tế bào của cơ thể.
3. Thẩm thấu nhanh nhờ kích thước các cụm phân tử nước được phân nhỏ từ 10-13 xuống 4-6 so với bình thường.
4. Khử trùng và lọc hết các chất độc hại nhưng vẫn duy trì khoáng chất tốt cho cơ thể.
Thật khó để áp dụng một chế độ ăn uống thích hợp, có thể hội đủ hết những yếu tố nêu trên trong cùng một bữa ăn trong ngày . Hơn thế nữa, thức ăn khi vào cơ thể phải qua một qua trình tiêu hóa, chọn lọc để sau đó vào máu để phân bổ về từng các tế bào, đương nhiên phải cần có thời gian hấp thụ vì khối lượng thức ăn đưa vào cơ thể có giới hạn. Trong khi đó, nước có thể uống được nhiều lần trong ngày.
Như vậy, có thể nói nước KANGEN là phương tiện hữu hiệu nhất, nhanh nhất, dễ dàng nhất, mang lại hiêu quả cao nhất để giúp cơ thể phòng chống lại bệnh tật, làm chậm quá trình lão hóa.
Chúng ta có thể bổ sung những Vitamine, những chất bổ dưỡng khác cần thiết cơ thể trong những bữa ăn hàng ngày.
