RSS

Tag Archives: Oxy hóa

Gallery

Khả năng chống oxy hóa đo bằng ORP

imagesĐây là thước đo cơ bản của điện tích phân tử cho biết mức độ của một chất bị oxy hóa hoặc tiềm năng làm giảm quá trình oxy hóa.

Một giá trị ORP dương biểu thị rằng chất này là một chất bị ôxi hóa. ORP mang giá trị dương càng cao khả năng bị oxy hóa càng nhiều. Hiện tượng ôxi hóa liên quan đến việc trao đổi các điện tử giữa hai nguyên tử. Nguyên tử nhận electron thì bị oxy hóa. Trong quá trình tái sản xuất tế bào, những tế bào bị hư hại hoặc bị thay đổi tái tạo sinh ra quá trình lão hóa và thoái hóa.

Một giá trị ORP âm biểu thị khả năng cho các điện tử, giá trị âm càng cao thì khả năng cung cấp các điện tử cho nguyên từ khác càng lớn. Đây là tiềm năng là một chất chống oxy hóa. Gốc tự do là chất oxi hóa và khả năng để ôxi hóa là loại bỏ hoặc giảm bằng việc bổ sung các các điện tử từ các nguyên tử với một giá trị âm ORP. Các chất có giá trị âm ORP cao được gọi là chất chống oxy hóa mạnh.

ORP (giá trị âm) của thức ăn hoặc đồ uống, tiềm năng lớn, nó có  thể đảo ngược quá trình lão hóa của cơ thể ở cấp độ tế bào.

Nước trái cây tươi:

Nước cam nguyên chất có ORP 250 mV. Tất cả rau tươi ép  và nước trái cây và rau quả có ORP âm.

Vì vậy, chúng được coi là chất chống oxy hóa vì chúng có khả năng làm giảm quá trình oxy hóa trong cơ thể. Tuy nhiên, nếu những loại nước ép được đun nóng trên 118 F (47.7 độ C), tiệt trùng hoặc chế biến bằng nhiều cách khác nhau, khả năng chống oxy hóa đã vô tình bị phá hủy. Trên thực tế, tất cả các thuộc tính trẻ hóa của nó bị loại bỏ và thực phẩm chỉ được chuyển đổi để cung cấp chất bổ dưỡng tạo năng lượng cho cơ thể như calori và giúp tăng tính axit trong cơ thể.

Enzymes phải có mặt trong thực phẩm để thực sự được coi là một chất trẻ hóa. Đây cùng một nguyên tắc thật sự giống như nước điện phân. Khi bị nung nóng, điện tích âm sẽ nhanh chóng bị mất đi bởi vì, các electron rất mỏng manh, rất dễ bị phá hủy. Electron nhẹ hơn proton (hạt nhân nguyên tử) đến hàng ngàn lần, do đó chúng dễ dàng phát tán và phân tán hơn proton. Tuy nhiên, những thuộc tính khác của nước ion hóa như độ kiềm, giảm kích thước cluster phân tử của nước vẫn còn nguyên vẹn ở một mức độ lâu hơn thời hạn ..

Khi một chất bị oxy hóa, giá trị ORP đo được của chúng tăng. Quá trình oxy hóa nghĩa là phản ứng với oxy. Rỉ sét là kim loại đã bị oxy hóa, đó là một ví dụ về oxy hóa chậm. Sự cháy là một ví dụ về quá trình oxy hóa nhanh. Trong quá trình oxy hóa của con người, cơ thể gây ra một phần, bởi hư hại gốc tự do (free radical). Các phân tử ôxy không ổn định cướp các điện tử, gây ra quá trình oxy hóa, dẫn đến lão hóa và bệnh tật. Bất cứ lúc nào chúng ta đưa một chất có một điện tích dương vào cơ thể, chúng ta gia tăng quá trình oxy hóa của cơ thể và do đó đẩy nhanh quá trình lão hóa. Cùng với tuổi tác, giá trị ORP của cơ thể chúng ta sẽ liên tục tăng lên. Tốc độ oxy hóa của cơ thể liên quan trực tiếp chế độ ăn uống của chúng ta và các chất khác mà chúng ta đưa vào cơ thể. Môi trường cũng trực tiếp góp phần vào quá trình oxy hóa của cơ thể. Di truyền học không xác định tỷ lệ của quá trình oxy hóa của cơ thể.

Một môi trường ô nhiễm sẽ làm tăng quá trình oxy hóa của cơ thể bằng cách tạo ra các gốc tự do (free radical). Môi trường ô nhiễm có chứa rất nhiều các ion dương bất lợi cho sức khỏe của chúng ta. Khi chúng ta hít thở không khí ô nhiễm, chất độc được bơm trực tiếp vào máu qua đường hô hấp. Nước kangen có giá trị âm ORP (-400mV -800mV) bù vào ORP dương của oxy hóa lão hóa cơ thể. Vì vậy, chúng ta chống lại sự lão hóa bằng cách uống ít nhất 1-2 gallon nước mỗi ngày. (4-8 lit nước).

Sức khoẻ con người là sức khỏe tế bào.Nếu các tế bào của cơ thể không lành mạnh thì chúng ta không thể khỏe mạnh được.

 
1 Comment

Posted by on January 21, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags: , ,

Gallery

Gốc tự do và lão hóa

Oxi hóa (lão hóa) là gì?

free-radicalsOxi được biết đến là một nguyên tố không thể thiếu để đảm bảo sự sống, nhưng bên cạnh đó, nó cũng có thể hủy hoại sự sống. Chúng ta có thể thấy được rõ tác hại này qua sự gỉ sét, hay còn gọi là sự oxi hóa. Những quá trình tương tự như vậy cũng xảy ra trong cơ thể theo từng nhịp thở của chúng ta.

Cơ bản, quá trình oxi hóa giải phóng ra các gốc tự do. Chúng gây ra những tổn hại cho tế bào bằng cách chiếm đoạt những điện tử của những phân tử bên cạnh chúng, gây tổn hại các chức năng của tế bào, đẩy nhanh quá trình lão hóa và gây nên rất nhiều chứng bệnh khác nhau. Cuộc sống hiện đại hiện nay với ô nhiễm môi trường, thuốc lá, stress, những thói quen ăn uống không khoa học… là những nguyên nhân chính gây nên sự hình thành các gốc tự do.

Gốc tự do

“Khái niệm về gốc tự do (Free Radical-FR) được đề xướng lần đầu tiên năm 1954 nhà khoa học Hoa kì D.Harman đưa ra trong luận thuyết về cơ chế tích tuổi (Free Radical Theory of Aging). Gốc tự do là những phân tử hay những mảnh vỡ của phân tử có 1 điện tích đơn lẻ ở quỹ đạo vòng ngoài. Do sự có mặt của điện tử này, các gốc tự do có một thuộc tính đặc biệt quan trọng là có khả năng oxi hóa rất cao. Nếu vì một lý do nào đó, số lượng các gốc tự do tăng cao bất thường, vượt khỏi tầm khống chế bình thường của hàng rào bảo vệ các chất chống oxi hóa (antioxidant-AO) thì chúng sẽ khởi động những phản ứng dây chuyền oxi hóa các chất nền(substraits) trong cơ thể đáng chú ý là các lipid, thành phần cấu tạo của tất cả các màng tế bào.

Các gốc tự do sau khi gây tổn thương màng tế bào, sẽ dẫn đến nhiều tổn thương khác như biến đổi cấu trúc các protein, ức chế hoạt động các men, biến đổi cấu trúc và thuộc tính các nội tiết tố. Đối với những người có tuổi, cần đặc biệt chú ý tới hoạt động của các gốc tự do trong cơ thể. Tổn thương do các gốc tự do gây ra là cơ sở sinh bệnh học của những trạng thái bệnh thường gặp ở những người có tuổi như vữa xơ động mạnh, bệnh tiểu đường, bệnh ung thư….

Gốc tự do nội sinh: Có trong cơ thể do những quá trình chuyển hóa tự nhiên như hô hấp tế bào, diệt khuẩn trông quá trình thực bào, tổn thương các tế bào…
Gốc tự do ngoại sinh: Được hình thành do các yếu tố ngoại lai như ô nhiễm môi trường, uống rượu, hút thuốc lá…
Do có hoạt tính sinh học mạnh nên các gốc tự do có thể thực hiện các phản ứng hóa học, phá hủy hệ thống tế bào dẫn đến khả năng sinh bệnh ung thư, nhồi máu cơ tim, lão hóa.

 
Leave a comment

Posted by on January 21, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags: ,

Nguyên Nhân Ung Thư

Chữa bệnh phải chữa cho tận gốc. Loại trừ axit thặng dư ra khỏi các mô tế bào bằng cách uống nước Kangen

Nguồn gốc Ung Thư

 
Leave a comment

Posted by on September 11, 2012 in Nước Kangen, Sức Khỏe, Sinh Hóa

 

Tags: , , , , , ,

ORP – Thước đo khả năng khử Oxy hóa

ORP là gỉ?

ORP là viết tắt của:

O = Oxidation, R = Reduction, P = Potential of a liquid

Là khả năng khử Oxy hóa của một chất.

Như chúng ta đã biết, phương pháp điện phân có thể tạo ra dòng nước kiểm bằng cách thay đổi độ pH. Đồng thời, một ứng dụng khác của nước điện phân là có thể tăng khả năng chống oxy hóa.

Theo khoa học, khử Oxy hóa có nghĩa là cho đi, hoặc tặng điện tử cho những tế bào bị oxy hóa, vì vậy nếu một chất có khả năng giảm oxy hóa nghĩa là nó có khả năng tăng năng lượng cho cơ thể.

Vì vậy, …. cuộc sống như chúng ta biết đó là một cuộc chiến nội bộ giữa các nguyên tử tích điện (ion) và nguyên tử mang điện tích âm (ion),  nhưng chính xác hơn – có thể nói rằng cuộc sống là một trận chiến giữa acid và kiềm, vì nồng độ pH:

pH =acid / kiềm và dư = ion hóa = O.R.P

Hầu hết các nhà nghiên cứu nước hàng đầu thế giới từ châu Á đồng ý rằng trong nước ion hóa cao độ pH là tốt, nhưng độ ORP là quan trọng hơn.
Quá trình điện phân làm tăng khả năng Oxy hóa, làm phân nhỏ và sắp xếp lại cấu trúc của các phân tử nước.
Khả năng khử Oxy hóa có nguồn năng lượng ”tiềm tàng” đã được lưu giữ và sẵn sàng ứng biến khi cơ thể cần đến. ORP là thước đo về tiềm năng khử Oxy hóa của một dung dịch.
Một ví dụ để thấy được tiềm năng này có thể thấy được là áp suất. Nếu bạn thổi một quả bóng, áp suất không khí có bên trong. Khi quả bóng được cột kín, áp suất vẫn còn và có thể đo được. Khi thả ra, năng lượng này có tiềm năng trở thành động năng.

Độ pH cao của nước sẽ làm giảm độ oxy hóa (-ORP) và nước có độ pH thấp hơn làm tăng độ oxy hóa (+ ORP).

Ví dụ về quá trình ôxy hóa: một quả táo màu nâu sau khi được cắt hoặc kim loại để rỉ sét.

Một chất mang tính khử Oxy hóa là một chất có khả năng chống oxy hóa được biểu thị bằng độ (-ORP).

Chỉ số đo ORP của nước máy ở Mỹ là từ +200 đến +600 mv … vì vậy, nước máy mang tính oxy hóa.
Ion hóa  có độ pH cao của nước cho thấy (- ORP) và do đó có đặc tính khử hoặc ”chống oxy hóa.”
Hầu hết các nước đóng chai mang tính axit (độ pH thấp) và do đó cũng có ORP cao (trên 400 mv).
pH và ORP thay đổi rất khác nhau và phụ thuộc chủ yếu vào ba yếu tố:

1. Các nguồn nước có khoáng sản thiên nhiên
2. Điện áp trong quá trình điện phân nước.
3. Tỷ lệ lưu lượng nước thông qua lớp phân cực

Xin xem thêm nước Kangen

 
Leave a comment

Posted by on May 18, 2011 in Sinh Hóa

 

Tags: , ,

Gốc tự do và Oxy hóa

Trong cơ thể con người, thường xuyên diễn ra nhiều tiến trình hoặc xây dựng hoặc huỷ hoại. Có những chất tưởng như là thực phẩm chính của tế bào nhưng đồng thời cũng lại làm hại tế bào. Có những phân tử  gây ra  tổn thương thì cũng có những chất đề kháng lại hành động  phá phách này. Gốc tự do, oxygen và chất chống oxy hóa là một thí dụ. Những phân tử này có liên hệ với nhau và ảnh hưởng tới  cơ thể con người rất nhiều, nhất là ở giai đoạn cuối của cuộc đời.

Ngoài ra, một trong nhiều lý thuyết cố gắng giải thích nguyên nhân sự  lão hóa, lão suy là tác dụng của những gốc tự do vào các phân tử trong cơ thể.

Gốc Tự Do

Theo định nghĩa, Gốc Tự Do ( Free radical ) là bất cứ phân tử hóa chất nào chỉ có một điện tử duy nhất (electron mang điện âm) hay một số lẻ điện tử.

Xin nhắc lại, về khía cạnh hóa học, phần nhỏ nhất của vật thể gọi là nguyên tử. Mỗi nguyên tử có một nhân với một số chẵn điện tử xoay chung quanh, giống như các hành tinh quay chung quanh mặt trời. Phân tử gồm một số nguyên tử dính với nhau do tác dụng của các đôi điện tử.

Một vài  khi, trong diễn tiến hóa học, một điện tử bị tách rời khỏi nhóm và phân tử đó trở thành một gốc tự do, với số lẻ điện tử. Do đó, nó không cân bằng, đầy đủ nên rất bất ổn, dễ tạo ra phản ứng. Nó luôn luôn tìm cách chiếm đoạt điện tử  mà nó thiếu từ các phân tử khác, và lần lượt tạo ra một chuỗi những gốc tự do mới, gây rối loạn cho sinh hoạt bình thường của tế bào. Các khoa học gia ví chúng như những tên sở khanh chuyên đi ve vãn, phá hoại hạnh phúc của các cuộc hôn nhân đang êm đẹp. Trong  cuộc đời của một người sống  tới 70 tuổi, thì có chừng 17 tấn gốc tự do được tạo ra như vậy.

Năm 1954, bác sĩ Denham Harman thuộc Đại học Berkeley, California, là khoa học gia đầu tiên nhận ra sự hiện hữu của gốc tự do trong cơ thể với nguy cơ gây ra những tổn thương cho tế bào.Trước đó, người ta cho là gốc này chỉ có ở ngoài cơ thể.

Gốc tự do có tác dụng không tốt cho cơ thể liên tục ngay từ lúc con người mới sanh ra và mỗi tế bào chịu sự tấn công của cả chục ngàn gốc tự do mỗi ngày. Ở tuổi  trung niên, cơ thể mạnh, trấn áp được chúng, nhưng tới tuổi cao, sức yếu, gốc tự do lấn át, gây thiệt hại nhiều gấp mười lần ở người trẻ. Nếu không bị kiểm soát, kiềm chế, gốc tự do gây ra các bệnh thoái hóa như ung thư, xơ cứng động mạch, làm suy yếu hệ thống miễn dịch gây dễ bị nhiễm trùng, làm giảm trí tuệ, teo cơ quan bộ phận người cao niên.

Nó phá rách màng tế bào khiến chất dinh dưỡng thất thoát, tế bào không tăng trưởng, tu bổ, rồi chết. Nó tạo ra chất lipofuscin tích tụ dưới da khiến ta có những vết đồi mồi trên mặt, trên mu bàn tay. Nó tiêu hủy hoặc ngăn cản sự tổng hợp các phân tử chất đạm, đường bột, mỡ, enzyme trong tế bào. Nó gây đột biến ở gene, ở nhiễm thể, ở DNA, RNA. Nó làm chất  collagen, elastin mất đàn tính, dẻo dai khiến da nhăn nheo, cơ khớp cứng nhắc.

Theo các nhà nghiên cứu, gốc tự do hủy hoại tế bào theo diễn tiến sau đây: Trước hết, gốc tự do oxy hóa màng tế bào, gây trở ngại trong việc thải chất bã và tiếp nhận thực phẩm, dưỡng khí; rồi gốc tự do tấn công các ty lập thể, phá vỡ nguồn cung cấp năng lượng. Sau cùng, bằng cách oxy hóa, gốc tự do làm suy yếu kích thích tố, enzym khiến cơ thể không tăng trưởng được.

Trong tiến trình lão hóa, gốc tự do cũng dự phần và có thể là nguy cơ gây tử vong. Hóa già được coi như một tích tụ những đổi thay trong mô và tế bào. Theo bác sĩ Denham Harman, các gốc tự do là một trong nhiều nguyên nhân gây ra sự hoá già  và sự chết cuả các sinh vật. Ông ta cho là gốc tự do phản ứng lên ty lạp thể, gây tổn thương các phân tử bằng cách làm thay đổi hình dạng, cấu trúc,  khiến chúng trở nên bất khiển dụng, mất khả năng sản xuất  năng lượng.

Do quan sát, người ta thấy gốc tự do có ít ở các sinh vật chết non, có nhiều hơn ở sinh vật sống lâu. Người cao tuổi có nhiều gốc tự hơn là khi người đó còn trẻ.

Theo các nhà khoa học thì gốc tự do có thể là thủ phạm gây ra tới trên 60 bệnh,  đáng kể nhất gồm có: bệnh vữa xơ động mạch, ung thư, Alzheimer, Parkinson, đục thuỷ tinh thể, bệnh tiểu đường, cao huyết áp không nguyên nhân, xơ gan.

Tuy nhiên, không phải là gốc tự do nào cũng phá hoại. Đôi khi chúng cũng có một vài hành động hữu ích. Nếu được kiềm chế, nó là nguồn cung cấp năng lượng  cho cơ thể; tạo ra chất mầu melanine cần cho thị giác; góp phần sản xuất prostaglandins có công dụng ngừa nhiễm trùng; tăng cường tính miễn dịch; làm dễ dàng cho sự truyền đạt tín hiệu thần kinh, co bóp cơ thịt.

Trong cơ thể có rất nhiều loại gốc tự do, mà các gốc nguy hiểm hơn cả là superoxide,  ozone, hydrogen peroxide, lipid peroxy nhất là hydroxyl radical, một gốc rất phản ứng và  gây ra nhiều tổn thương.

Gốc tự do được tạo ra bằng nhiều cách. Nó có thể là sản phẩm của những căng thẳng tâm thần, bệnh hoạn thể xác, mệt mỏi, ô nhiễm môi trường, thuốc lá, dược phẩm, tia phóng xạ mặt trời, thực phẩm có chất mầu tổng hợp, nước có nhiều chlorine và ngay cả oxygen.

Oxygen- Sự oxy hoá- Chất chống oxy hoá.

Oxygen là dưỡng khí thiết yếu cho mọi động vật, thảo mộc, ngoại trừ một số nhỏ sinh vật kỵ khí.

Đối với loài người, ở một mức độ trung bình, oxygen tham dự vào sự biến hóa căn bản trong cơ thể để tạo ra năng lượng cung ứng cho nhu cầu sinh hoạt cuả toàn bộ tế bào. Không khí ta thở có 20% dưỡng khí, vừa đủ cho  nhu cầu của cơ thể và sức chịu đựng của phổi. Khi thở oxy nguyên chất khoảng 6 giờ, ta thấy nặng ngực và nếu tiếp tục thở lâu hơn nữa, các phế nang sẽ bị tổn thương.

Oxygen phản ứng trên vật chất  và gây  nhiều thay đổi cho các phân tử này. Một miếng thịt để ra ngoài lâu sẽ thâm, miếng táo cắt đôi trở mầu nâu, cây đinh sắt sét rỉ, cục bơ  thơm trở mùi ôi khét. Chúng đã bị oxy hóa và trở thành vô dụng, đôi khi nguy hiểm.                                                                                                                                     Trong cơ thể, phản ứng oxy hóa tạo ra những gốc tự do. Nhưng may mắn là cơ thể ta tạo ra được mấy loại enzym có khả năng trung hòa gốc tự do và mỗi  phân tử enzym có thể vô hiệu hóa nhiều ngàn gốc. Các enzym đó túc trực trong cơ thể  trước khi có phản ứng tạo ra gốc tự do nên nó kịp thời đối phó với những chàng sở khanh hoá chất hoang đàng này. Các enzym chính là superoxide dismutase (SOD ), catalase và glutathione. Mỗi enzym liên hệ  vào từng phản ứng hóa học riêng biệt

Ngoài ra ta có thể trung hòa gốc tự do bằng cách dùng chất chống oxy hóa ( antioxidant ).  Các chất này chỉ mới được nhắc nhở nhiều trong dân chúng cũng như  y giới khoảng mươi năm gần đây. Đã có nhiều khoa học gia để tâm nghiên cứu về công dụng của chất chống oxy hóa và tây y học cũng đã có thái độ thiện cảm hơn với các chất này.

Trong một cuộc hội thảo của các bác sĩ chuyên môn về tim năm 1995, 90 % tham dự viên nhận là mình có uống chất chống oxy hoá  nhưng chỉ có 75 % biên toa cho bệnh nhân. Lý do là nhiều người vẫn cho là không có đủ dữ kiện xác đáng để khuyến khích bệnh nhân dùng thêm các chất này. Hiệp Hội Tim Mạch Hoa Kỳ đã khuyến cáo: Một chỉ dẫn thận trọng và khoa học nhất về vấn đề này là dân chúng nên ăn thực phẩm có nhiều chất chống oxy hóa trong rau, trái cây và các loại hạt, thay vì uống thuốc có chất antioxidant.

(Theo bác sĩ Nguyễn Ý Đức)

Khả năng khử Oxy hóa cao của nước Kangen có thể giải quyết vấn đề trên một cách rất hiệu quả.

Xin xem thêm ở phần nước KANGEN và những lợi ích thiết thực trong đời sống.


 
Leave a comment

Posted by on May 18, 2011 in Sinh Hóa

 

Tags: ,

Oxy hóa, nguồn gốc của lão hóa và bệnh tật

Vui với tuổi già chưa mời đã đến có lẽ chỉ còn ngành giải phẫu thẩm mỹ với biết bao khách hàng nôn nóng trở về với thời xuân sắc, dù là tạm bợ và gượng ép. Trong cuộc sống căng thẳng hiện nay, các tế bào con người làm sao trẻ được khi chúng bị đầu độc liên tục. Không chỉ kiệt lực vì ngày đêm phải đối đầu với độc chất của môi trường ô nhiễm, độc tố của vi sinh…, chúng còn bị đánh gục một cách phũ phàng bởi một hoạt chất vốn không thể thiếu cho sự sinh tồn của con người, đó là dưỡng khí!

Ô-xy hóa, thủ phạm của nhiều loại bệnh nguy hiểm

Thiếu dưỡng khí thì cuộc đời đúng là không còn kiếp trầm luân, nhưng cũng chính vì dưỡng khí mà tất cả, không riêng gì cơ thể con người, không thể tránh được vòng hoại tử. Tiến trình thoái hóa, biến dạng, gỉ sét dưới ảnh hưởng của dưỡng khí được đặt tên là hiện tượng ô-xy hóa, một loại thuế trị giá gia tăng 100% đánh thẳng vào sức đề kháng của người tiêu dùng. Bắp thịt càng vận động, não càng tính toán, tâm càng mưu sự…, thì tình trạng tích lũy đủ loại phế phẩm của quá trình biến dưỡng gọi chung là chất ô-xy hóa càng nhanh. Chất ô-xy hóa càng tăng, con người càng hoạt động nhiều thì tế bào càng mau già, dù người đó có thể còn rất trẻ nếu tính trên giấy khai sinh. Danh sách bệnh chứng do bàn tay ngấm ngầm phá hoại của chất ô-xy hóa càng lúc càng dài, từ cườm mắt, tiểu đường, cao huyết áp… cho đến ung bướu ác tính. Bệnh do sự hiện diện của chất ô-xy hóa đã từ lâu chiếm vị trí hàng đầu trong danh sách các bệnh thời đại. Không có gì khó hiểu khi cơ chế sinh bệnh là hậu quả của việc có vay có trả. Đã dùng dưỡng khí thì phải chịu cảnh ô-xy hóa! Dùng nhiều, dùng thường thì cơ thể càng mau sứt mẻ. Thêm vào đó, stress, thói quen lạm dụng độc chất (thuốc lá, cà phê, dược phẩm…), dinh dưỡng sai lầm… là yếu tố tích cực tiếp tay cho tình trạng bội tăng chất ô-xy hóa. Còn dẫn chứng nào hùng hồn hơn khi số bệnh nhân tai biến mạch máu não, nhồi máu cơ tim, tiểu đường, ung thư… ngày càng nhiều hơn và trẻ hơn. Đã đến lúc phải đi tìm giải pháp!

Benjamin Franklin đã viết: “Ai cũng muốn sống lâu, nhưng không ai muốn… già!”. Sống lâu đã khó, muốn đừng già thì chỉ có chuyện thần tiên. Ngược đời làm sao?! Trong ánh bình minh của thiên niên kỷ mới, khi con người đang mãn nguyện với các thành tựu khoa học kỹ thuật, thì oái oăm sao cơ thể lại càng lúc càng dễ già trước tuổi.

Tuy là một thực tế chua cay đành phải chấp nhận ở thế kỷ 21, nhưng hiện tượng ô-xy hóa không hẳn là vấn đề nan giải. Biết cách ứng dụng chất kháng ô-xy hóa trong cuộc sống thường ngày qua chế độ dinh dưỡng hay ngay cả dưới hình thức dùng thuốc theo hướng dẫn của thầy thuốc cho đối tượng dễ là nạn nhân của phản ứng ô-xy hóa, như người lao động nặng, công nhân trong môi trường ô nhiễm, nạn nhân của stress, bệnh nhân mạn tính, vận động viên chuyên nghiệp, người lớn tuổi…, chính là bí quyết trì hoãn tuổi già. Không nên đồng hóa biện pháp kháng ô-xy hóa với mục tiêu đơn thuần chỉ nhằm kéo dài tuổi trẻ. Ai cũng muốn trẻ, dù trẻ ngoại hình hay trẻ tuổi đời, nhưng quan trọng hơn nhiều là làm sao giữ được nét tươi trẻ cho tế bào. Đó chính là giải pháp chủ động và tối ưu để phòng bệnh ở ngay mức độ cơ bản là đơn vị của sự sống.

Phòng bệnh bao giờ cũng đơn giản, an toàn và hiệu quả hơn trị bệnh! Phòng bệnh do chất ô-xy hóa vì thế cần được bắt đầu càng sớm càng tốt, ngay khi chưa bệnh, từ ngày hôm nay!

Cần tăng cường chất kháng ô-xy hóa ngoại sinh

Do có những điện tử độc thân không ghép đôi mà chất chống ô-xy hóa (gốc tự do) có hoạt tính rất mạnh, mang tính “hủy hoại”, sẵn sàng thực hiện phản ứng ô-xy hóa cướp điện tử với chất mà nó tiếp xúc khiến chất này bị thương tổn nặng nề. Trong cơ thể khỏe mạnh, chất ô-xy hóa sinh ra có giới hạn, không quá thừa để gây hại vì có hệ thống các chất chống ô-xy hóa “nội sinh” (có sẵn bên trong cơ thể) cân bằng lại. Khi chất ô-xy hóa sinh ra quá nhiều có thể gây hại (do ô nhiễm môi trường, tia cực tím từ ánh nắng, khói thuốc lá, viêm nhiễm trong cơ thể, thậm chí do dùng một số dược phẩm) thì người ta phải nhờ đến các chất kháng ô-xy hóa ngoại sinh (từ bên ngoài đưa vào cơ thể) nhằm mục đích phòng bệnh, nâng cao sức khỏe. Có thể ngăn ngừa sự tăng sinh các chất ô-xy hóa có hại bằng cách chống ô nhiễm môi trường, dinh dưỡng đúng cách (nhiều rau quả, trái cây, không thừa năng lượng), vận động hợp lý, bỏ rượu, thuốc lá, sống lạc quan, yêu đời…

Nước Kangen có đặc tính khử Oxy hóa rất mạnh. Xin xem ở phần nước Kangen với ORP trên -400 (mv)

 
Leave a comment

Posted by on May 18, 2011 in Sức Khỏe, Sinh Hóa

 

Tags: , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers

%d bloggers like this: