RSS

Tag Archives: pH máu

HOOCMON- CHỈ SỐ QUAN TRỌNG TRONG CƠ THỂ

Theo các công trình nghiên cứu khoa học gần đây, các đặc trưng kiềm-axit của cơ thể chúng ta có ý nghĩa rất quan trọng đối với sức khoẻ. Tính chất đó được thể hiện rất rõ qua hàm lượng độ pH (còn gọi là hocmon pH) trong máu, nước tiểu, nước bọt, dịch vị dạ dày, ruột non, nước mắt và mồ hôi.

Trong máu: Một trong những tham số quan trọng nhất của trạng thái máu là tính chất kiềm – axít hoặc độ pH (biểu hiện của nồng độ ion hyđro trong dung dịch). Nước sạch khi lọc kỹ các tạp chất có độ pH=7. Đó là nước trung hoà. Nước axit có độ pH nhỏ hơn 7, nước kiềm có độ pH lớn hơn 7. Khi độ pH của máu lớn hơn hoặc nhỏ hơn giá trị tiêu chuẩn thì quá trình trao đổi chất sẽ bị ngừng trệ .

Làm thế nào để cơ thể luôn duy trì độ PH trong khuôn khổ nghiêm ngặt đó khi hàng loạt sản phẩm trao đổi chất thường xuyên được đưa vào máu?

Có hai cơ chế bảo vệ. Thứ nhất, trong thành phần của máu có chất platma có khả năng ngăn chặn quá trình axít hoá và kiềm hoá. Thứ hai là nhờ cơ thể có hệ thống bài tiết. Lượng axit và kiềm dư thừa được đào thải qua phổi, thận, tuyến mồ hôi . Vì vậy, việc chăm sóc để phổi , thận và da làm tròn chức năng bài tiết nhằm duy trì độ PH là biện pháp rất quan trọng. Thở dưỡng sinh là một biện pháp xưa nay vẫn được các danh y coi là bí quyết để giữ gìn sức khoẻ, chính là vì nó giúp cơ thể duy trì độ pH trong giới hạn có độ kiềm loãng.

Nước tiểu: Thận có chức năng vừa đào thải chất độc ra khỏi cơ thể, vừa duy trì độ pH của máu. Khi độ pH dịch chuyển về phía axít, thận tăng cường đào thải hàm lượng axit photphat NaH2PO4. Khi đó nước tiểu sẽ có tính axit. Còn nếu máu có tính kiềm, thận sẽ đào thải các muối Na2HPO4 và Na2CO3. Lúc đó nước tiểu có tính kiềm.

Khi con người ăn thịt là chủ yếu, nước tiểu sẽ có tính axit. Còn khi ăn rau, nước tiểu sẽ có tính kiềm. Nếu con người hoạt động thể lực với cường độ cao, trong tế bào cơ bắp sẽ tích tụ hàm lượng axit cao. Các axit đó sẽ đi vào máu và đào thải qua thận. Lúc đó nước tiểu có tính axit. Trong điều kiện sinh hoạt bình thường mà nước tiểu luôn luôn có tính axit thì điều đó chứng tỏ quá trình trao đổi chất bị rối loạn.

Nước bọt: Độ pH trong nước bọt thay đổi trong khoảng 5,8 – 7,4, phụ thuộc vào tốc độ tiết nước bọt. Khi đói và thèm ăn, độ pH có thể lên tới 7,8. Sau bữa ăn no nê, nước bọt có tính axít nhẹ.

Dịch vị dạ dày: Là một loại chất lỏng không màu, trong suốt, chứa 0,3 – 0,5% axit HCl. Mỗi ngày tuyến tiêu hoá trong dạ dày tiết ra 2,0 – 2,5 lít dịch vị có độ pH 1,5 – 1,8. Axít HCl trong dịch vị dạ dày có tác dụng phân hoá các phân tử chất béo để tạo quá trình lên men ở bộ máy tiêu hoá. Axít còn có tác dụng tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh. Các loại gia vị có tính chất chua, cay, đắng đều có tác dụng kích thích tiết dịch dạ dày. Vì vậy khi ăn các thức ăn lạ như rau sống, gỏi cá, thịt tái, người ta thường ăn kèm theo các gia vị trên đây chính là để tăng khả năng sát trùng trong dạ dày .

Nước bọt chứa 99,5% nước (H2O), lượng còn lại là các chất clorua, cacbonat, muối photphat của các nguyên tố Na, K, Ca, Mg và các hợp chất hữu cơ để tạo độ nhớt cho nước bọt và làm giảm ma sát của thức ăn để dễ nuốt. Thành phần và tính chất của nước bọt phụ thuộc vào loại thức ăn. Cơ thể luôn luôn thích ứng khá nhạy cảm để tiết nước bọt thích hợp đối với từng loại thức ăn cụ thể. Đối với thức ăn cứng, nước bọt có độ nhớt cao. Khi thức ăn mềm, nước bọt có độ nhớt thấp để tăng hoặc giảm ma sát .Vì vậy, ăn chậm, nhai kỹ là một lời khuyên có cơ sở khoa học sâu sắc giúp con người tiêu hoá thức ăn với hiệu suất cao.

Nếu trong dạ dày có môi trường axit thì trong đường ruột lại có môi trường kiềm. Để tạo môi trường chuyển tiếp từ dạ dày xuống ruột, tuyến hạ vị trong dạ dày thường tiết ra dịch vị có độ kiềm nhẹ. Khi cơ thể vì một lý do nào đó tiết quá nhiều dịch vị, niêm mạc dạ dày sẽ bị rối loạn.

Ruột non: ở đây, các chất dinh dưỡng prôtein pôlyme được phân rã thành các monome để ngấm qua đường ruột vào máu. Độ PH trong ruột non có giá trị 7,2 – 8,0. Trong hành tá tràng sẽ diễn ra quá trình trung hoà thức ăn có hàm lượng axít cao bằng lượng dịch tiết ra từ tuyến mật và tuyến hạ vị. Trong một ngày, mật tiết ra 1,5 lít dịch chứa các axit amin, vitamin và có độ pH 7,3 – 8,0. Trong ruột già, độ PH lên tới 8,8 – 9,0.

Nước mắt: Độ pH của nước mắt tiết ra khi mắt nhắm lớn hơn so với khi mắt mở và dao động trong khoảng 6,5 – 7,4. Trong nước mắt chứa chủ yếu là muối của các kim loại kiềm.

Mồ hôi: Có thể tìm thấy tất cả các nguyên tố trong bảng tuần hoàn Menđêlêep trong mồ hôi của con người. Mồ hôi có độ PH bằng 3,8 – 5,6. Thành phần hoá học của mồ hôi phụ thuộc vào cường độ tiết dịch (do lao động thể lực nặng, do nhiệt độ không khí xung quanh và thân nhiệt, do trạng thái hoạt động của thận).

Mùi của mồ hôi là dấu hiệu đặc biệt mang dấu ấn thông tin về thể trạng. Ai cũng có thể theo dõi sức khoẻ của chính mình bằng cách xem xét mùi mồ hôi. Một khi mùi của mồ hôi thay đổi khác thường, phải đến gặp bác sỹ ngay để khám nghiệm sức khoẻ. Nên nhớ rằng, các tuyến mồ hôi có tác dụng quan trọng để giữ độ pH cân bằng trong máu. Đó là lý do khiến chúng ta phải luôn giữ cho tuyến mồ hôi trên da được sạch sẽ, thông thoáng .

Lê Minh Quang (Theo “Khimia i Gizn”, 2002)

 
Leave a comment

Posted by on April 15, 2012 in Sinh Hóa

 

Tags: , , , , , ,

TÍNH CHẤT LÝ HOÁ CỦA MÁU

Máu là nguồn gốc tạo các dịch lỏng khác như dịch bạch huyết, dịch kẽ tế bào, dịch não tủy, dịch màng bụng, màng phổi, màng khớp…Tất cả các dịch đó tạo thành nội môi, trong đó máu là thành phần quan trọng nhất. Máu và bạch huyết có những tính chất lí – hoá tương đối ổn định. Nhờ đó hoạt động của các cơ quan trong cơ thể được đảm bảo, ít bị ảnh hưởng trước những thay đổi của môi trường.

Sự ổn định về tính chất lí – hoá được thể hiện ở những mặt sau:

4.1.1. Khối lượng máu

Khối lượng máu phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể, vào tuổi, vào trạng thái cơ thể. Ở người trưởng thành, bình thường máu chiếm 7- 9% (hay 1/13) toàn bộ trọng lượng cơ thể. Tổng số máu trong cơ thể có khoảng 4 -5 lít  hay 70 – 90 ml/kg thể trọng. Lượng máu ở trẻ sơ sinh, chiếm khoảng 14%, trẻ đang bú 11%. Thường lượng máu tăng lên sau bữa ăn. Khi đói hay khi mất nước thì khối lượng máu giảm. Ở phụ nữ có thai, lượng máu cũng tăng

Trong trạng thái sinh lí bình thường, chỉ có 50% lượng máu được lưu thông trong hệ thống mạch máu, còn lại 50% lượng máu được giữ trữ ở các tổ chức. Trong đó lượng máu giữ trữ ở lách khoảng 16%, ở gan khoảng 20% và ở các mạch máu dưới da khoảng 10%. Lượng máu giữ trữ này có thể được huy động trong những trường hợp cơ thể cần nhiều máu

Tỉ lệ lượng máu giữ trữ có thể thay đổi tuỳ thuộc trạng thái hoạt động của cơ thể. Khi nghỉ ngơi hoặc ngủ, lượng máu giữ trữ tăng lên, còn khi bị mất máu, khi lao động cơ bắp kéo dài, khi bị sốt nóng, khi bị ngạt thở hay xúc động mạnh thì lượng máu lưu thông tăng.

Khi bị mất máu có thể gây nguy hiểm cho cơ thể. Nếu mất nhanh đột ngột 30 % máu động mạch hoặc mất nhanh 30 – 35% tổng lượng máu thì cơ thể sẽ chết ngay  vì bị giảm huyết áp đột ngột.

4.1.2. Tỉ trọng và độ quánh của máu

+ Tỉ trọng máu toàn phần lớn hơn nước. Ở người, tỉ trọng của máu bằng 1,050 – 1,060  (Trong đó tỉ trọng của riêng huyết tương là 1,028 – 1,030, của riêng hồng cầu là 1,09 – 1,10). Tỉ trọng của máu nam cao hơn tỉ trọng của máu nữ (nam 1,057, nữ 1,050). Tỉ trọng của máu có thể thay đổi, phụ thuộc vào nồng độ protein và hồng cầu có trong máu; vào trạng thái cơ thể và tuỳ theo loài. Tỉ trọng của máu có thể tăng lên khi bị mất nước và giảm khi cơ thể bị mất máu.

+ Độ nhớt (độ quánh) của máu lớn gấp 5 lần so với nước, thường dao động trong khoảng 4-5. Trong đó độ nhớt của huyết tương là 1,2 -2. Độ quánh của máu phụ thuộc vào hàm lượng protein và muối khoáng trong huyết tương. Ở trẻ sơ sinh, độ nhớt của máu tăng khi cơ thể bị mất nước.

4.1.3. Áp suất thẩm thấu của máu (thẩm áp)

Áp suất thẩm thấu (ASTT) của máu phụ thuộc vào hai yếu tố chính là lượng khoáng hoà tan trong máu, khoảng 0,9 – 1,0% (gọi là áp suất thẩm thấu tinh thể) và lượng protein hoà tan trong huyết tương (gọi là áp suất keo, trị số khoảng 25 mmHg). Áp suất keo tuy nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc giữ và trao đổi nước giữa mao mạch và mô, do đó nó quyết định sự phân phối nước cho cơ thể.

Ở người, trong điều kiện bình thường, ASTT của máu toàn phần khoảng 7,6 – 8,1 atmotphe (at). Sự ổn định ASTT máu có ý nghĩa sinh lý quan trọng, đảm bảo cho hồng cầu thực hiện chức năng sinh lí.  Nếu ASTT của hồng cầu và huyết tương bằng nhau thì hồng cầu giữ nguyên hình dạng và kích thước. Trong dung dịch nhược trương, có ASTT thấp hơn ASTT của hồng cầu, nước sẽ thấm vào trong hồng cầu làm vỡ hồng cầu. Trong dung dịch ưu trương, có ASTT cao hơn ASTT của hồng cầu, nước trong hồng cầu sẽ thấm ra ngoài, hồng cầu bị teo lại và cũng bị hủy. Như vậy trong cả hai trường hợp máu đều bị phá hủy. Ðó là hiện tượng tiêu huyết. Hiện tượng tiêu huyết còn xảy ra khi máu tiếp xúc với clorofooc, ether, cồn, tia cực tím, tia X, các chất phóng xạ, độc tố của vi trùng, giun sán, nọc nhện, ong, bọ cạp, rắn độc…

4.1.4. Độ pH của máu

Độ pH của máu dao động trong khoảng 7,35 – 7,39. Nó là chỉ số ổn định. Sự thay đổi nhiệt độ cơ thể không làm thay đổi pH của máu. Sự ổn định pH của máu đảm bảo cho sự hoạt động của hồng cầu và của các cơ quan ít bị biến đổi. Chỉ cần thay đổi pH ± 0,2 có thể gây rối loạn hoạt động cơ thể và có thể tử vong.

Độ pH của máu phụ thuộc vào nồng độ ion H+ và ion OH-, nghĩa là phụ thuộc vào sự cân bằng axít – bazơ trong máu. Quá trình trao đổi chất luôn biến động liên tục, nên nồng độ ion H+ và ion OH- cũng biến động. Nhưng pH của máu luôn ổn định, đó  là nhờ hệ đệm trong máu.

4.1.5. Hệ đệm của máu

Hệ đệm của máu gồm nhiều đôi đệm. Mỗi đôi đệm do một axít yếu và một muối kiềm mạnh, hoặc một muối mono axit và muối đi axit tạo nên.

Hệ đệm máu được hình thành ngay trong tháng đầu sau khi sinh. Nhờ hệ đệm mà độ pH trong máu luôn được ổn định. Tuy nhiên khả năng đệm của máu cũng có một giới hạn nhất định. Nếu hàm lượng axit hoặc kiềm trong máu tăng quá cao sẽ làm cho cơ thể trúng độc.

Trong máu có nhiều đôi đệm, trong đó có 3 hệ đệm quan trọng là hệ đệm bicacbonat, hệ đệm photphat, hệ đệm protein.

+ Hệ đệm bicacbonat:

Hệ đệm bicacbonat chiếm khoảng 7- 9% khả năng đệm của máu. Tham gia hệ đệm này gồm có axit cacbonic với muối kiềm bicacbonat natri hay bicacbonat kali. Nếu trong các sản phẩm của quá trình trao đổi chất chuyển vào máu chứa nhiều axit thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion H+ bởi muối bicacbonat, axit cacbonic thừa sẽ được phổi thông khí ra ngoài vì sự tăng nồng độ H+ sẽ kích thích trung khu hô hấp, còn nếu trong máu chứa nhiều bazơ thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion OH-  bởi axit cacbonic.

Công thức tổng quát :  H2CO/ B.HCO3 (Trong đó B là ion Na+ hoặc ion K)

Ví dụ: axit lactic được tạo ra trong quá trình đường phân đi vào máu, sẽ kết hợp với NaHCO3 để tạo thành lactatnatri và axit cacbonic. Axit cacbonic là một axit yếu sẽ được thải ra ngoài qua đường hô hấp

Axit lactic  + NaHCO3  => lactat natri + H2CO3

H2CO3  => CO2 + H2O

+ Hệ đệm photphat:

Hệ đệm photphat cũng hoạt động tương tự như hệ đệm bicacbonat nhưng tác dụng yếu hơn. Tham gia hệ đệm này gồm có muối photphat monoaxit và muối photphat điaxit. Nếu trong các sản phẩm của quá trình trao đổi chất chuyển vào máu chứa nhiều axit thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion H+ bởi muối photphat điaxit, còn nếu chứa nhiều bazơ thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion OH-  bởi muối photphat monoaxit

Công thức tổng quát : B.H2PO4 / B2.HPO4 (Trong đó B là ion Na+ hoặc ion K+)

+ Hệ đệm protein (P)

Hệ đệm protein gồm có các loại  protein trong huyết tương và hemoglobin, hoặc oxi hemoglobin trong hồng cầu. Đây là hệ đệm quan trọng nhất trong các hệ đệm của máu. Chiếm tới 1/6 hệ đệm của máu và chiếm 3/4 lượng axit cacbonic của máu.

Công thức tổng quát: H.P / B.P và H.Hb / B.Hb hay H.HbO2 / B.HbO2   (Trong đó B là ion Na+ hoặc ion K+ )

Phản ứng được biểu thị bằng công thức tổng quát sau:

B.P +  H2CO=>H.P + B.HCO3

Hệ đệm protein có hiệu quả nhất là huyết cầu tố hemoglobin (Hb) chứa trong hồng cầu. Hb có khả năng đệm gấp 10 lần các protein khác của huyết tương.

H2CO3 trong máu tăng cao sẽ thấm vào hồng cầu và tranh cation của Hb, vốn là một axit rất yếu, nên biến thành bicacbonat

B.Hb +  H2CO=>H.Hb + B.HCO3

Khả năng gắn với các cation của hemoglobin lớn gấp 3 lần so với protein huyết tương và lượng hemoglobin nhiều gấp hơn 3 lần protein huyết tương, nên hệ đệm hemoglobin lớn gấp 10 lần hệ đệm protein trong huyết tương.

 
Leave a comment

Posted by on May 18, 2011 in Sinh Hóa

 

Tags: ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers

%d bloggers like this: