RSS

Tag Archives: ung thư

Gallery

Nguy cơ bị ung thư vú đối với thợ nail

Nguy cơ bị ung thư vú đối với thợ nail

Nhiều phụ nữ bị ung thư vú không có một yếu tố nguy cơ (risk factor) nào báo trước cả, trong khi đó, một số khác dù có một vài nguy cơ nhưng không bao giờ bị ung thư vú cả. Chúng ta có thể liệt kê một số nguy cơ có thể đưa đến bệnh ung thư vú. Một số yếu tố nguy cơ không thể nào tránh được thí dụ như, tuổi tác và yếu tố di truyền, tuy nhiên một số yếu tố khác như uống rượu, tăng cân trên trung bình, có thể điều chỉnh được để tránh nguy cơ bị ung thư vú.

Cụ thể, như đã đề cập trên đây, những yếu tố nguy cơ không thể thay đổi được là:

Tuổi tác: Càng lớn tuổi càng dễ bị ung thư vú.

Chủng tộc: Phụ nữ da trắng trên 40 dễ bị ung thư vú nhiều nhất. Phụ nữ da đen, ít hơn một tí nhưng lại dễ chết vì ung thư vú hơn người da trắng. Phụ nữ Á Châu, trong đó có người Việt, ít bị ung thư vú hơn cả.

Ðã từng bị ung thư: Phụ nữ bị ung thư một bên vú, nguy cơ tái phát bên còn lại sẽ cao hơn.

Gia đình có người đã bị ung thư, như mẹ, chị em gái, hay con gái. Nếu số người bi ung thư vú trong gia đình càng nhiều thì xác suất bị ung thư vú càng tăng cao.

Có nhân di truyền gene BRCA1 và BRCA2, người Việt mình ít có gene này hơn người Âu Châu nhưng không phải là không có.

Tuổi bắt đầu có kinh và tuổi nghỉ kinh: Người có kinh trước 12 tuổi và/hoặc nghỉ kinh sau 54 có nguy cơ ung thư vú cao hơn trung bình một tí.

Có con đầu lòng trễ: Phụ nữ sanh con đầu lòng sau 29 tuổi, dễ bị ung thư vú hơn. Sanh con càng nhiều và cho con bú sữa mẹ thì nguy cơ bị ung thư vú càng ít đi.

Những yếu tố nguy cơ khác có thể thay đổi được là:

Sức nặng cơ thể: Phụ nữ trên cân quá mức trung bình dễ bị ung thư vú hơn người có sức nặng lý tưởng.

Rượu: Phụ nữ uống rượu trên một ly mỗi ngày, và, càng uống nhiều càng dễ bị ung thư hơn. Nên hạn chế uống một vài ly rượu mỗi tuần là tốt hơn cả.

Hormone, kích tố nữ: Phụ nữ uống nhiều hormone estrogen lâu năm có nguy cơ ung thư vú tăng cao khoảng 26%.

Những yếu tố khác như, uống thuốc ngừa thai, hút thuốc lá, ăn nhiều chất béo, hay ô nhiễm môi trường, các nghiên cứu hiện nay vẫn chưa có kết luận rõ ràng. “Ông nói gà, bà nói vịt”, hay “mình thấy có, nó bảo không”. Tránh được thì nên tránh.

Nghiên cứu cũng cho biết phụ nữ có giải phẫu căng, nâng ngực, không có nguy cơ bị ung thư vú.

Nguy cơ bị ung thư vú trong những người làm móng tay ở California và Quận Cam

Một số liệu thống kê cho biết, số tiệm làm móng tay ở California đã tăng gấp 3 trong vòng 20 năm vừa qua với hơn 80% tiệm do người Việt điều hành, trong đó 95% công nhân là phụ nữ.

Một số các hóa chất có trong sản phẩm làm móng tay như: Formaldehyde, Silica (quartz hay crystobalite), Methylene Chloride và Titanium Dioxide là những chất được biết hay nghi ngờ có thể gây ra các loại ung thư hoặc làm tăng nguy cơ bị ung thư. Hóa chất DiButyl Phthalate có trong bột làm móng tay có thể gây ra sự bất thường cho chu kỳ kinh nguyệt và sự rụng trứng, và còn gây ảnh hưởng tác hại đến các hệ thống nội tiết khác trong cơ thể (endocrine system). Cuối cùng hóa chất Toluene bị nghi ngờ có thể gây ra thai nhi bị tàn tật, làm tăng khả năng bị sẩy thai.

Trong khi chờ đợi thông tin về những số liệu thống kê hay nghiên cứu mới rõ ràng hơn về nguy cơ ung thư vú hay các loại ung thư khác trong cộng đồng người làm móng tay, chúng ta nên tìm mọi cách cải thiện môi trường làm việc cho công nhân trong nghề làm móng tay.

Suy ra, những nguyên nhân có thể làm tăng con số phụ nữ dưới tuổi 40 bị ung thư vú trong 4 thập niên qua, có thể là do phụ nữ ngày nay thường có con trễ, uống nhiều rượu hơn trước, và hệ quả của hiện trạng béo phì.

Ðối với phụ nữ Á Châu mới đến từ Châu Á, hiện đang sống tại Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú còn tương tự như ở quốc gia gốc của họ. Trong khi đó phụ nữ Á Châu sống một thời gian dài ở Hoa Kỳ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư vú ngày càng tăng cao như người bản xứ. Còn thế hệ thứ hai sanh ra và lớn lên tại Mỹ, tỉ lệ mắc bệnh ung thư của họ sẽ xấp xỉ như các sắc dân khác.

Vì vậy, câu hỏi đối với cộng đồng người Việt có một dân số lớn, sống và làm việc tại Orange County, California, làm thế nào để bớt đi nguy cơ bệnh ung thư vú?

Lời khuyên cho quý bạn là phải thay đổi và điều chỉnh tức khắc những yếu tố nguy cơ có thể thay đổi được.

Thêm vào đó nên theo các lời khuyên của Hội Ung Thư Hoa Kỳ (American Cancer Society), tư vấn với bác sĩ gia đình để được khám nghiệm và truy tầm ung thư vú nhất là khi bạn có những yếu tố nguy cơ không thay đổi được đã trình bày ở trên.

Truy tầm, định bệnh và chữa trị sớm sẽ làm giảm tỉ lệ tử vong vì bệnh ung thư vú.

 

 
Leave a comment

Posted by on March 19, 2013 in Sức Khỏe

 

Tags:

Nguyên Nhân Ung Thư

Chữa bệnh phải chữa cho tận gốc. Loại trừ axit thặng dư ra khỏi các mô tế bào bằng cách uống nước Kangen

Nguồn gốc Ung Thư

 
Leave a comment

Posted by on September 11, 2012 in Nước Kangen, Sức Khỏe, Sinh Hóa

 

Tags: , , , , , ,

Uống Nước Ngọt Nhiều Sẽ Bị Tai Biến Mạch Máu Não

Các kết quả nghiên cứu lần đầu thử nghiệm ảnh hưởng của nước ngọt cho thấy có nguy cơ bị tai biến mạch máu não, và nhiều tin tức dữ tợn hơn cho người uống nước ngọt.

Nhiều nhà nghiên cứu từ Viện Wellness Institute của Bệnh Viện Cleveland và Đại Học Harvard phát hiện uống một lon nước ngọt mỗi ngày sẽ nâng nguy cơ tai biến mạch máu não. Tuy nhiên, cũng có tin vui là người uống cà phê sẽ làm giảm nguy cơ bị đột quỵ.

Các nghiên cứu trước đây đã nối kết việc uống nước ngọt với hàng loạt chứng bệnh gồm béo phì, tiểu đường, cao huyết áp, cao cholesterol, ung thư, bệnh vành động mạch, và gout.

Tin tức này đến quá trễ đối với một công dân Tân Tây Lan Natasha Harris đã chết 2 năm trước vì bệnh truỵ tim do nghiện nước ngọt hiệu Coca-Cola.

Trong cuộc điều tra chính thức đối với cái chết của bà, Bác sĩ Dan Mornin tường trình rằng bà có thể đã chết vì chất potassium thấp, gây ra bởi quá nhiều nước ngọt Coca-Cala mà bà đã uống. Harris, 30 tuổi, là mẹ của 8 đứa con, uống 8 lít nước ngọt Coke mỗi ngày.

Nghiên cứu, được đăng trong Tạp Chí American Journal of Clinical Nutrition, thử nghiệm việc uống nước ngọt của 43,371 đàn ông và 84,085 đàn bà và khám phá rằng những người tham dự nghiên cứu đã uống hơn một lon nước ngọt mỗi ngày có tỉ lệ cao hơn của áp huyết và cholesterol trong máu với tỉ lệ thấp của hoạt động thể lực.

(Theo Vietbao)

 
 

Tags: , , , , , , ,

Sở Kiểm Soát Chất Độc California Cảnh Báo:Sản Phẩm Làm Nail Có Chất Độc Gây Ung Thư

Hóa chất độc được tìm thấy trong nhiều sản phẩm ngành nail mà đã được cho là không có chất độc trước đây, theo một phúc trình mới của tiểu bang cho biết, nâng cao mối quan ngại về sự an toàn cho các thợ làm nail.

Quản trị của tiệm nail tại thành phố Brea, Phuoc Dam cố gắng mua các sản phẩm đánh bóng móng không có chất độc. Ông ấy muốn làm cho tiệm nail của ông có không khí trong lành và những người thợ làm việc cho ông đeo găng tay khi cần thiết.

Dù có những nỗ lực, ông Dam nói rằng ông vẫn còn lo ngại về những ảnh hưởng lâu dài của các sản phẩm làm nail cho những người thợ. Vợ ông, một người làm móng tay trong tiệm, đã bị nhức đầu và chóng mặt.

Dam, 58 tuổi, là một người di dân Việt Nam đã làm kinh doanh 25 năm, nói rằng, “Tôi thực sự quan ngại cho sức khỏe của tất cả những người làm việc trong tiệm, và đặc biệt cho vợ tôi.”

Ngành nail, có mặt khắp nơi tại California, nơi mà các khách hàng có thể làm móng tay, móng chân, và những dịch vụ khác nhanh chóng và rẻ tiền. Có klhoảng 120,000 thợ nail có giấy phép hành nghề trong 48,000 tiệm nail trên toàn tiểu bang. Khoảng 4/5 là phụ nữ Việt Nam.

Hiện nay, vấn đề an toàn trong các tiệm nail lôi cuốn sự chú ý của các giới chức tiểu bang. Sở Kiểm Soát Chất Độc của Tiểu Bang [California] được mong đợi sẽ công bố phúc trình hôm Thứ Ba cho thấy hóa chất độc trong nhiều sản phẩm ngành nail mà đã từng cho là không có độc hại. Nghiên cứu, dựa trên mẫu nhỏ của các sản phẩm từ các nhà phân phối tại Vùng Vịnh, tập trung 3 loại hóa chất được biết như là “3 chất độc”: formaldehyde, toluene và dibutyl phthalate. Khám phá đối với các hóa chất này cho thấy có sự liên hệ tới bệnh ung thư và hư thai, theo phúc trình của tiểu bang cho biết.

Debbie Raphael, giám đốc sở, cho biết rằng, các kết quả làm ngạc nhiên và cho thấy rằng tiểu bang cần phải làm việc sát hơn nữa với các nhà sản xuất để bảo đảm các mức độ chính xác, và với nhiều luật lệ để ấn định sản phẩm có an toàn hay không cho khách hàng và thợ làm nail.

Nhà khoa học nghiên cứu làm việc tại Học Viện Ngăn Ngừa Ung Thư của California là người nghiên cứu về kỹ nghệ làm nail Thu Quach nói rằng có rất ít luật lệ của những nhà sản xuất sản phẩm nail.

Ông Dam tại Brea nói rằng ông và người cháu, là chủ tiệm, sẽ tiếp tục cố gắng giữ hơn một chục thợ an toàn. Nhưng ông cũng cho biết thật hữu ích nếu ông có thể biết sản phẩm nào là độc và cái nào không độc bởi vì không thể bỏ hết mọi hóa chất. Ông phát biêu “Chúng tôi không có chọn lựa ngoại trừ sử dụng chúng.”

Hue Nguyên, 58 tuổi, đã làm móng tay tại Vùng Vịnh kể từ năm 2004. Vì là một người di dân thì nghề nail rất dễ học và không cần tiếng Anh nhiều. Nhưng không lâu sau khi bà bắt đầu làm việc, bà Nguyễn bắt đầu cảm thấy choáng váng và nhức đầu. Và vào năm 2008, bà được chẩn đoán mắc bệnh ung thư vú. Bà nói qua người thông dịch rằng, “Tôi nghĩ nó có liên quan tới các hóa chất.” Bà cho biết thêm là bà khỏe mạnh trước khi làm nghề nail.

(Theo Vietbaoonline)

 
Leave a comment

Posted by on April 11, 2012 in Sức Khỏe

 

Tags: ,

Một cách nhìn mới về trị liệu Ung Thư

Một cách nhìn mới về trị liệu Ung Thư

SAU NHIỀU NĂM TUYÊN BỐ RẰNG HÓA CHẤT TRỊ LIỆU LÀ PHƯƠNG CÁCH ĐỘC NHỨT ĐỂ CỐ GẮNG DIỆT TRỪ UNG THƯ, TRƯỜNG ĐẠI HỌC JOHNS HOPKINS SAU CÙNG ĐANG BẮT ĐẦU NÓI TỚI MỘT PHƯƠNG THỨC TRỊ LIỆU KHÁC NGOÀI HÓA CHẤT.

Trường đại học Johns Hopkins đã đưa ra những dữ kiện mới nhứt về ung thư như sau:

  1. Trong mỗi cơ thể con người đều có tế bào ung thư. Khi những tế bào ung thư này có rất ít trong cơ thể thì cuộc thử nghiệm thông thường (như thử máu, chiếu điện, v.v……..) không thể nào phát hiện chúng được cho đến khi vài tỷ tế bào ung thư đã được phát triển. Khi bác sĩ cho bịnh nhân ung thư biết rằng cơ thể của người này không còn tế bào ung thư trong cơ thể nữa sau thời gian trị liệu, thì đó chỉ có nghĩa là những cuộc thử nghiệm không phát hiện được những tế bào ung thư vì chúng chưa nhân lên được số lượng cao để có thể khám phá được.
  2. Tế bào ung thư phát sinh trong cơ thể từ 6 đến hơn 10 lần trong suốt đời người.
  3. Hệ miễn nhiễm trong cơ thể mạnh sẽ giúp tiêu trừ tế bào ung thư và ngăn ngừa chúng phát triển quá nhiều và hình thành những khối u.
  4. Việc tế bào ung thư phát sinh trong cơ thể cho thấy cơ thể đó ở trong tình trạng suy kém dinh dưỡng về nhiều mặt. Sự kém sút này có thể là hậu quả của nhiều yếu tố, như di truyền, môi sinh, ăn uống và lối sống.
  5. Để khắc phục tình trạng này, việc thay đổi chế độ ăn uống kèm theo các thuốc phụ bổ hàng ngày sẽ giúp tăng cường hệ miễn nhiễm cho cơ thể.
  6. Hóa chất trị liệu (chemotherapy) nhằm đánh độc chất vào tế bào ung thư đang sinh sôi nảy nở mau chóng, nhưng đồng thời cũng tiêu diệt luôn những tế bào lành mạnh đang sinh sôi nảy nở mau chóng trong tủy, trong dạ dày và đường ruột, v.v.. và có thể gây tác hại cho các bô phận như gan, thận, tim, phổi, v.v..
  7. Xạ quang trị liệu (radiation) cũng nhằm tiêu diệt những tế bào ung thư nhưng cũng đốt cháy, làm tổn hại và gây ra vết sẹo trên các tế bào lành mạnh, những mô và những bộ phận trong cơ thể.
  8. Việc chữa trị sơ khởi bằng hóa chất và xạ quang lúc đầu sẽ làm tiêu nhỏ các mô u ung thư. Tuy nhiên, kéo dài hai cách chữa trị này sẽ không còn đạt những kết quả tương tự nữa.
  9. Khi chất độc do hóa chất và xạ quang trị liệu gây ra quá nhiều trong cơ thể, hệ miễn nhiễm sẽ bị tổn hại hoặc bị hủy diệt và do đó bịnh nhân có thể không chống cự lại được các bịnh nhiễm trùng và các biến chứng khác.
  10. Hóa chất trị liệu và xạ quang trị liệu có thể làm cho những tế bào ung thư biến đổi dạng và trở nên đề kháng và khó bị tiêu hủy được. Phương pháp phẫu thuật cũng có thể tạo điều kiện cho tế bào ung thư phát triển ra các bộ phận khác trong cơ thể.
  11. Một phương cách chống ung thư hữu hiệu là không nuôi dưỡng tế bào ung thư bằng những thức ăn mà chúng cần để sinh sản ra tế bào ung thư.

Điều này đã được Tiến Sĩ Otto Warburn  khôi nguyên Nobel 1931, chứng minh rằng:

“Tất cả tế bào bình thường có một nhu cầu tuyệt đối là cần phải có oxy, nhưng các tế bào ung thư có thể sống không cần oxy -  mà không có một quy tắc ngoại lệ nào”
“Các tế bào ung thư có tính axit, trong khi các tế bào khỏe mạnh mang tính kiềm”.

“Lấy ra 35% oxy của một tế bào trong vòng 48 giờ, tế bào đó có thể trở thành ung thư.”

Nước Kangen mang kiềm tính cao, có khả năng khử Ô-xy hóa mạnh mẽ. Khi uống nước Kangen, chúng ta đã đưa một lượng kiềm cao để trung hòa lượng axit dư thừa đến tận tế bào (vì nước chiếm đến 75%) của cơ thể.

Như đã đề cập ở phần #1 và #2, cơ thể chúng ta đang khỏe mạnh, thế nhưng trong bất kỳ giai đoạn nào của cuộc sống, có thể tế bào đã nhiễm ung thư mà chúng ta không hề hay biết. Hệ miễn nhiễm suy yếu dần, đến một lúc nào đó, sẽ phát bệnh ung thư.

Uống nước Kangen hàng ngày là biện pháp hữu hiệu nhất đế duy trì độ kiềm ổn định một cách liên tục, cung cấp một lượng Oxy dồi dào, giúp tế bào của chúng ta luôn luôn khỏe mạnh, tiêu diệt ngay tất cả các tề bào ung thư trong cơ thể.

Xin xem thêm:

Nước Kangen và Y Học

Nước Kangen

SAU ĐÂY LÀ NHỮNG THỨC ĂN MÀ TẾ BÀO UNG THƯ CẦN ĐỂ SINH SẢN:

  1. Đường: Việc bỏ hẳn không ăn đường sẽ cắt đứt nguồn tiếp tế chất ngọt quan trọng cho tế bào ung thư. Các loại đường hóa học như NutraSweet, Equal, Splenda, Spoonful, v.v.. được làm bằng chất hóa học Aspartame rất có hại. Chất ngọt thiên nhiên rất tốt là mật ong hay mật mía, nhưng nên ăn rất ít.
  2. Muối: Muối có màu trắng là do được chế biến bằng một chất hóa học. Tốt hơn nên ăn thứ muối có tên Bragg được chế biến bằng chất aminos, hoặc muối biển Celtic (đến từ vùng Celt, xứ Wales).
  3. Sữa: Sữa giúp cơ thể sản xuất chất nhờn, nhứt là trong dạ dày và đường ruột. Chất nhờn này là thức ăn của ung thư. Hãy thay thế sữa bằng loại sữa chưa được xử lý cung cấp thẳng từ thú vật) để tế bào ung thư không có được nguồn thức ăn được xử lý này để sinh sản.
  4. Thịt: Tế bào ung thư phát triển nhanh trong một môi trường axít. Thịt là thức ăn gây ra axít và tốt nhứt là nên ăn cá và một ít thịt gà thay vì thịt bò và thịt heo. Thịt chứa các loại thuốc kháng sinh dùng nuôi gia súc, chất kích thích tăng trưởng và các vật ký sinh, vì vậy rất có hại cho sức khỏe, nhứt là bịnh nhân ung thư.
  5. Một chế độ ăn uống với 80% rau cải tươi (rau xanh, khoai, đậu v.v.), nước cốt trái cây, ngũ cốc chưa được tinh chế, các loại hạt, quả hạch (nuts) và ít trái cây sẻ giúp cơ thể sống trong một môi trường có chất kiềm (alkaline). Còn lại 20% có thể gồm các thức ăn được nấu chín, kể luôn cả các loại đậu. Nước cốt rau cải tươi cung cấp enzymes sống (enzymes: hóa chất hữu cơ được tạo thành trong tế bào sống và tham gia vào các biến đổi hóa học) cho cơ thể, được thẩm thấu dễ dàng và chảy xuống các lớp tế bào trong vòng 15 phút để nuôi dưỡng và giúp vào việc tăng trưởng của những tế bào lành mạnh. Để có được enzymes sống có ích cho việc phát triển tế bào lành mạnh, hãy cố gắng uống, 2 hoặc 3 lần mỗi ngày, nước cột rau cải tươi (gồm cả giá sống) và đem rau cải tươi vào bữa ăn hàng ngày. Nên nhớ nhiệt độ 104 độ F (hay 40 độ C) sẽ hủy diệt enzymes.
  6. Tránh uống càfe, trà và các loại sô cô lát được chế biến vì các thứ này chứa nhiều chất kích thích. Tốt nhứt là trà xanh, loại trà có đặc tính chống ung thư.
    Tránh uống nước máy thành phố vì nước này chứa nhiều độc tố và kim loại và thay thế bằng nước lọc rất tốt. Cũng nên tránh uống nước cất (distilled: cùng một phương pháp cất rượu). Uống 8 ly nước, hay nhiều hơn nữa, mỗi ngày sẽ giúp tẩy tế bào ung thư ra khỏi cơ thể.
  7. Chất đạm từ thịt rất khó tiêu hóa và đòi hỏi số lượng enzymes cao để làm tiêu hóa. Thịt không tiêu hóa được còn tồn lại trong ruột sẽ bị thối rữa và dẫn đến tình trạng tồn chứa nhiều độc tố hơn nữa trong cơ thể.
    1. Chất đạm từ thịt đóng cứng vào thành vách của tế bào ung thư. Một chế độ ăn không có thịt hoặc ít thịt sẽ tạo thêm nhiều enzymes hơn để tấn công vào thành vách của tế bào ung thư và tạo điều kiện cho tế bào sát thủ (killer cells) có sẵn trong cơ thể tiêu diệt tế bào ung thư.
    2. Một vài thuốc phụ bổ (như IP6, Flor-essense, Essiac, thuốc chống oxy hóa, các loại sinh tố, các khoáng chất, EFA, v.v..) có lợi ích tăng cường hệ miễn nhiễm, góp phần trợ giúp tế bào sát thủ tiêu diệt tế bào ung thư. Các thuốc phụ bổ khác như sinh tố E tạo điều kiện cho cơ thể loại bỏ những tế bào bị tổn hại hoặc không cần thiết ra khỏi cơ thể.
    3. Ung thư là một chứng bịnh của tâm trí, thể xác và tinh thần. Một tinh thần năng động và tích cực sẽ giúp bịnh nhân ung thư chiến thắng chứng bịnh hiểm nghèo và sống còn. Buồn giận, cố chấp không tha thứ và luôn cay đắng sẽ đẩy cơ thể vào một trạng thái căng thẳng và bị tác hại bởi axit độc hại. Hãy tìm cách phát huy một tinh thần vị tha và đầy tình yêu thương. Hãy tập sống với một trạng thái thư giãn và vui hưởng mỗi phút giây của đời sống.
    4. Tế bào ung thư không thể sống và phát triển trong một môi trường đầy khí oxy. Luyện tập thân thể hàng ngày và thở hít thật sâu sẽ giúp đem thêm khí oxy xuống tận các lớp tế bào. Đấy cũng là một phương cách trị liệu nữa nhằm tiêu diệt tế bào ung thư.

Một vài điều nên biết trong việc phòng ngừa ung thư:

  1. Không nên hâm nóng trong microwave thức ăn nước uống chứa trong bình plastic.
  2. Không nên để vào tủ đông (freezer) các chai nước uống bằng plastic.
  3. Không nên hâm nóng trong microwave thức ăn bọc trong plastic mỏng.
 
Leave a comment

Posted by on February 18, 2012 in Sức Khỏe

 

Tags: , , ,

BÁO ĐỘNG: Người gốc Việt có tỉ lệ mắc bệnh ung thư cao nhất ở Mỹ

Theo kết quả điều tra được chính quyền hạt Santa Clara (bang California) công bố ngày 12/12, số người Mỹ gốc Việt mắc ung thư chiếm 32% tổng số người mắc ung thư của toàn hạt, chiếm tỉ lệ cao nhất.

Vài thập niên gần đây, số người Việt cư ngụ tại hạt Santa Clara đang gia tăng theo cấp số nhân. Hiện nay, với 135.000 cư dân, nếu tính cho một hạt thì cộng đồng người gốc Việt của Santa Clara là đông nhất ở Mỹ.

Tuy nhiên, theo tờ ABC News, trong một báo cáo dày 112 trang mới đây của chính quyền hạt Santa Clara cho thấy, người Mỹ gốc Việt mắc các bệnh ung thư, lao phổi, tim mạch, tiểu đường… chiếm 32%, so với con số 26% của các sắc dân còn lại. Trong đó, ung thư phổi do hút thuốc là vấn đề báo động của người Việt.

Theo vị bác sĩ này, ung thư cổ tử cung của nữ giới cũng cao và đặc biệt ung thư gan do vi khuẩn Hepatitis B của nữ giới gốc Việt là cao gấp 4 lần so với các sắc dân khác. Dan Peddycord, Giám đốc cơ quan y tế cộng đồng của hạt, nhận định: “Nếu phát hiện vi khuẩn Hepatitis B và điều trị đến nơi đến chốn, thì có thể giảm đáng kể tỉ lệ mắc bệnh ung thư gan nơi cộng đồng người Việt”.Bác sĩ Marty Fenstersheib, một viên chức y tế của Santa Clara, cho biết: “Tính chung tỉ lệ người lớn hút thuốc của hạt khá thấp, chỉ khoảng 10%, nhưng đặc biệt tỉ lệ này là 25% cho cộng đồng người Việt Nam”.

Tờ The Mercyry News cũng dẫn lời ông Van Lan Truong, chịu trách nhiệm theo dõi tình trạng sức khỏe của cộng đồng người Việt trong hạt, nói: “Bản báo cáo đã tái xác nhận điều mà chúng tôi nghi ngờ, nhưng chúng tôi không ngờ vấn đề lại nghiêm trọng như thế”. Tương tự, ông Bui Ngoc Tong bổ sung: ”Thông tin này giúp chúng tôi rất nhiều khi tuyên truyền cho người dân về bảo vệ sức khỏe bản thân”.

Theo báo cáo, nguyên dẫn chính đến tỉ lệ trên là do người gốc Việt bị hạn chế về ngôn ngữ nên không được chăm lo y tế đầy đủ. Cứ 4 người Việt trong hạt thì có 1 người không có bảo hiểm y tế. Một nguyên nhân khác là điều kiện sống khó khăn khiến họ mắc bệnh. Theo số liệu từ năm 2007 – 2009, cứ 10 người Việt thì có 1 người sống trong thiếu thốn.

Ngoài ra, tâm lý ngại đi khám bệnh cũng là một trong những lý do khiến người Mỹ gốc Việt mắc ung thư nhiều. Bác sĩ Tiffany Ho của bệnh viện Santa Clara nhận xét: “Người Việt cứ sợ mang tiếng bệnh tật nên ít khi chịu đến các trung tâm khám chữa bệnh”

(Theo Báo Đất Việt)

 
Leave a comment

Posted by on December 16, 2011 in Sức Khỏe

 

Tags:

Thêm 19 loại nước giải khát có chất gây ung thư

SÀI GÒN (TH) – Việc khám phá nhiều loại thức uống giải khát có chứa chất làm dẻo, tạo đục DEHP gây ung thư khiến người tiêu thụ Việt Nam hoang mang ngày càng lan rộng.

Ðợt khám phá này khởi đầu hôm 1 tháng 6, 2011 với loại thạch rau câu khoai môn Taro của công ty New Choice Foods nhập cảng từ Ðài Loan.

Ðồng thời với lệnh thu hồi trên 6,000 thùng thạch rau câu Taro đang được bày bán tại hàng trăm cửa hàng, chợ khắp đất nước Việt Nam, người ta lại tiếp tục khám phá trên hàng chục loại thực phẩm, nước giải khát có chứa DEHP.

Theo VTC News, chiều 12 tháng 6, Chi Cục An Toàn Vệ Sinh Thực Phẩm tại Sài Gòn lại công bố tin vừa tìm thấy DEHP trong 19 loại nước giải khát nhập cảng từ Ðài Loan. Ðó là nước ép chanh dây, xoài và trái vải do công ty Nhất Phú Quý, quận 3 nhập cảng. Mười sáu loại thức uống còn lại có chứa DEHP do công ty Hà Thành nhập cảng gồm xi rô dâu, kiwi, táo xanh nho, vải, chanh, dưa gang, bách hương, đào, cam, xí muội, xoài, thơm, táo đỏ, lựu, dâu lam.

Trong khi đó, báo Lao Ðộng đưa tin nói rằng Cục Quản Lý Dược thuộc Bộ Y Tế Cộng Sản Việt Nam cũng đã yêu cầu công ty GlaxoSmithKline (GSK) thu hồi thuốc trụ sinh Augmentin dạng bột có pha xi rô do Anh Quốc và Pháp sản xuất vì có DEHP.

Ðại diện cục quản lý này cho rằng tuy liều lượng chất tạo dẻo chứa trong thuốc không vượt giới hạn cho phép nhưng nhà sản xuất không công bố chất phụ gia độc hại này trong thành phần công thức chế tạo.

Có thể nói, chưa bao giờ chất DEHP tạo dẻo gây ung thư lại được chú ý nhiều như thế. Nhưng người ta e rằng việc thu hồi các sản phẩm có DEHP cũng như việc thông tin rộng rãi trong nước không được thực hiện đến nơi đến chốn. (P.L.)

(Theo NGƯỜI VIỆT)

 

Thông tin DEHP: http://en.wikipedia.org/wiki/DEHP

 
Leave a comment

Posted by on June 14, 2011 in Nước, Sức Khỏe

 

Tags: ,

Một cách nhìn mới về nguyên nhân gây bệnh

Trong cuốn sách giáo khoa về “Sinh lí học Y khoa” của tác giả nổi tiếng người Mỹ, Tiến sĩ bác sĩ Y khoa Arthur C.Guyton có đề cập tới chủ đề: “Bước đầu tiên trong việc duy trì sức khỏe là kiềm hóa cơ thể.

Các tế bào của một cơ thể khỏe mạnh có tính kiềm, trong khi các tế bào của một cơ thể bệnh tật lại bị nhiễm a-xit. Khi pH càng dưới 7.0 thì tế bào càng a-xit, con người càng ốm yếu hơn. Nếu tế bào không kiềm hóa được, chúng sẽ trở nên nhiễm a-xit và như vậy bệnh tật sẽ bắt đầu. Cơ thể con người tạo ra các chất chuyển hóa a-xit như là phụ phẩm của cơ chế chuyển hóa bình thường. Nhưng cơ thể con người không sản xuất ra chất kiềm. Bởi vậy con người phải tìm cách thu nhận được chất kiềm từ nguồn bên ngoài để giữ cho cơ thể tránh khỏi bị nhiễm a-xit và dẫn tới bệnh tật và tử vong”.

Từ điều nhận thức trên, người ta cho rằng dược phẩm chỉ xử lí được các triệu chứng của bệnh tật mà không giải quyết được nguyên nhân gây bệnh. Vì vậy, muốn loại trừ nguyên nhân sinh ra các chứng bệnh, nhất thiết phải thông qua dinh dưỡng hợp lí và duy trì sự cân bằng về độ pH của các lưu chất trong cơ thể con người.

Vậy độ pH là gì và tại sao nó lại quan trọng đến như vậy?

Thang độ pH đi từ con số 0 (rất a-xit) đến con số 14 (rất kiềm). pH=7 là trung tính (không biểu hiện tính a-xit cũng không biểu hiện tính kiềm). Mỗi sự thay đổi 1 điểm trên thang độ pH, ví dụ như từ pH=7 giảm xuống pH=6 sẽ làm tăng độ a-xit lên gấp 10 lần.Từ 6 giảm xuống đến 5 làm tăng độ a-xit lên thêm 10 lần nữa. Như thế, một chất dịch có pH=2 sẽ có độ a-xit mạnh hơn gấp 100.000 lần so với chất dịch có độ pH=7

 

 

Cơ thể con người cấu tạo luôn giữ cho máu có độ pH nằm giữa 7,35 và 7,45. Trong phạm vi này, máu chỉ có một chút tính kiềm giúp có thể mang ô-xy từ phổi đến các tế bào sinh năng lượng cho cơ thể. Nếu độ pH trong máu dưới 7,35 hoặc trên 7,45 thì con người sẽ dần dần xuất hiện bệnh tật và tử vong. Vì thế, cơ thể con người sẽ làm mọi thứ để giữ cho máu luôn luôn có độ pH là 7,4. Máu có một số cơ chế để tự cân bằng độ pH, như việc rút dần các khoáng chất thiết yếu (như can-xi) của các cơ quan khác trong cơ thể để trung hòa độ a-xit và duy trì mức kiềm phù hợp trong máu. Một khi các chất dịch và các cơ quan bị tước đoạt chất khoáng thì cơ thể con người bị nhiễm a-xit hơn. Đây là điều tồi tệ cho sức khỏe của bạn.

Phần lớn các enzyme trong cơ thể người cũng cần một môi trường có độ pH giữa 6 và 8 để hoạt động một cách có hiệu quả. Giữ cho các chất dịch của cơ thể người thường xuyên có độ pH trên 6 là điều rất hệ trọng trong việc duy trì sức khỏe!

Nếu cơ thể bạn có tính kiềm yếu là điều rất tốt. Nhờ đó mà cơ thể dễ bài tiết chất thải ra ngoài, sự chuyển hóa được linh hoạt, nội tạng được giảm nhẹ gánh nặng, kết quả là rất ít sinh bệnh, hoặc dù có bị bệnh cũng sẽ mau khỏi (bởi bệnh tật không thể tồn tại trong môi trường chất dịch có kiềm). Nhóm người có thể trạng như vậy thì sinh lực dồi dào và tràn đầy sức sống. Nếu cơ thể bạn có khuynh hướng có tính a-xit thì hoạt động của tế bào sẽ kém cỏi, các chức năng yếu đi, chất thải khó bài tiết được ra ngoài, chuyển hóa cũng trì trệ, gánh nặng của thận và gan tăng lên, làm cho cơ thể xuất hiện các bệnh mạn tính. Đồng thời môi trường a-xit dễ làm cho con người chóng già yếu, mệt mỏi, lo buồn bất an, tâm thần không ổn định, hình thành áp lực tâm lí khá lớn, có khi xuất hiện những triệu chứng như mất ngủ v.v…

Chính vì vậy mà ở Mỹ có cuốn sách với tựa đề nổi bật: “Kiềm hóa hay là chết”. Cuốn sách cho biết, kiềm hóa là cơ sở trong việc hoàn trả lại sức khỏe cho cơ thể con người.

Bằng cách nào có thể xác định được độ pH của cơ thể mình ?

Vào năm 1972, Bác sĩ Carl Reich đã xác minh rằng số đo pH của nước bọt là đại diện cho độ pH của toàn bộ cơ thể người. Độ pH của nước bọt thật sự là một thước đo về “ứng suất” của kiềm có trong cơ thể người. Nếu khi đo độ pH bằng nước bọt cho thấy kết quả sau:

7,0 đến 7,5 (xanh biển đến tía *): là biểu hiện một cơ thể khỏe mạnh; 6,0 đến 6,5 (xanh lục nhạt *): là biểu hiện bệnh có thể phát triển; 4,5 đến 5,5 (vàng *) : là biểu hiện bệnh đã có mặt trong cơ thể. Thực tế cho thấy, độ pH trong cơ thể người là một biến số theo rất nhiều yếu tố.

Bằng cách nào có thể duy trì độ pH gần sát với độ trung tính ?

Có rất nhiều yếu tố tác động đến độ pH trong cơ thể, như tuổi tác, mức độ vận động, chất lượng không khí, trạng thái tinh thần và đặc biệt là thức ăn, thức uống. Có đến 150 chứng bệnh như ung thư, loãng xương, cao huyết áp, bệnh tim, giảm trí nhớ, tiểu đường, dị ứng với thuốc và thức ăn v.v… đều có quan hệ mật thiết với các chất dịch của cơ thể có a-xit hoặc nhiễm a-xit.

Yếu tố then chốt quyết định thể chất là thức ăn. Chỉ riêng việc điều chỉnh thức ăn, thức uống tiếp nhận vào cơ thể hàng ngày, có thể nhanh chóng nhận biết được ngay sự thay đổi của độ pH. Tham khảo Báo Người cao tuổi đã giới thiệu về thức ăn mang tính kiềm và thức ăn mang tính a-xit có tiêu đề “Thức ăn của bạn phải là thuốc men của bạn và thuốc men của bạn phải là thức ăn của bạn” (lời nói của Ông tổ nền Y học Thế giới- Hippocrates), sẽ được rõ thêm những thức ăn rất kiềm, kiềm nhẹ, a-xit nhẹ và a-xit mạnh. Qua bài báo, càng hiểu rõ, kiểm soát được thực phẩm tiếp nhận vào cơ thể hàng ngày đối với việc duy trì sức khỏe bản thân có ý nghĩa thiết thân và quan trọng.

Không nhất thiết cứ phải loại trừ sử dụng thức ăn, thức uống có tính a-xit, mà điều mấu chốt là phải biết sử dụng chúng với một tỉ lệ thích ứng với thức ăn tính kiềm. Thức ăn tính kiềm đưa vào cơ thể phải bảo đảm đủ số lượng cần thiết mới có thể trung hòa được hết lượng thức ăn tính a-xit. Tham khảo Báo Người cao tuổi cũng đã giới thiệu “Bệnh ung thư” của Giôn Hốp-Kin (Johns Hopskins Hospital).

Sự thành công trong việc duy trì độ pH của cơ thể phải được thể hiện qua việc kiểm tra thực tế về số đo độ pH trong nước bọt. Qua số đo thực tế độ pH của nước bọt, sẽ biết được những yếu tố liên quan (tích cực và tiêu cực) thực hiện trong thời gian trước khi kiểm tra độ pH. Từ đó có thể quyết định được những lựa chọn về ăn uống, về sự vận động, về trạng thái tinh thần v.v… trong những ngày tiếp theo nhằm duy trì được độ pH cần thiết trong cơ thể mình. Một khi đã có được nhận thức đầy đủ với chủ định làm chủ việc kiềm hóa cơ thể, thì bạn sẽ nhanh chóng nhận biết được thao tác tự kiểm tra độ pH trong cơ thể thật là dễ dàng, nhanh gọn mà có ý nghĩa. Khi đã làm chủ được quá trình kiềm hóa cơ thể thì bạn sẽ không cần phải kiểm tra thực tế về số đo độ pH trong nước bọt của mình nữa

Nguyễn Hiền Nhân biên tập
GS.TS KH Hoàng Tích Huyền hiệu đính

 
Leave a comment

Posted by on May 25, 2011 in Sức Khỏe, Sinh Hóa

 

Tags: , , ,

Ung Thư, Mập Phì, DNA…

EGFR và ung thư.

Bs Avaniyapuram Kannan Murugan và các đồng nghiệp đã tìm hiểu hiện tượng đột biến của một số di thể như GNAQ, MMP8, AKT3, EGFR, và PIQ3R1 trong ung thư tuyến giáp trạng. Kết quả tường trình trong điện báo Endocrine Pathology, 18 April 2011 cho biết khoảng 5% di thể EGFR đột biến trong ung thư tuyến giáp trạng (papillary thyroid cancer).

Đột biến EGFR (epidermal growth factor receptor) thấy trong cơ thể con người còn có tên là ErbB-1; HER1, là một thụ thể thấy ngoài màng tế bào (cell surface receptor).

Trong điện báo Cancer Cytology ngày 11 tháng 03, 2011, Bs Shareen Billard và các cộng sự viên cho biết di thể EGFR và KRAS đột biến trong ung thư phổi (non-small cell lung carcinoma) và khuyến cáo nên thử nghiệm lâm sàng đột biến di thể EGFR hay di thể KRAS.

Trong bản tin Internal Medicine 15 tháng 04, 2011, Hội American Society of Clinical Oncology và National Comprehensive Medical Network khuyến cáo thử nghiệm đột biến di thể EGFR có thể coi như bước đầu quan trọng trong việc định giá điều trị ung thư phổi (non-small cell) di căn hay tái phát. Bệnh nhân ung thư phổi nặng (non-small cell lung cancer) trước khi được điều trị dùng một trong những loại tyrosine kinase inhibitors, loại thuốc nhắm vào kìm hãm EGFR, thì cần thử nghiệm đột biến EGFR.

Liên hệ Oxýt hoá Nitric và Mập phì ở trẻ em.


Bs Codoner-Franch và các đồng nghiệp phổ biến kết quả nghiên cứu cho biết hiện tượng oxýt hoá Nitric tăng cao ở trẻ em mập phì. Có liên hệ giữa hiện tượng oxýt hoá Nitric và những thông số của cơ thể như bụng mập phì, cường độ oxýt hoá (oxidative stress) và những dấu ấn viêm trong cơ thể.

Nitric Oxide còn gọi là Nitrogen monoxide là một hoá chất có công thức hoá học là NO. Tăng biểu hiện NO lâu dài liên hệ ung thư và những điều kiện viêm thường thấy ở bệnh tiểu đường trẻ em, bệnh xơ cứng (multiple sclerosis), phong thấp (arthritis) và viêm lở loét ruột kết mạc (ulcerative colitis).

Oxýt hoá làm hư hại DNA và mập phì bệnh nhân tiểu đường loại 2. Bs Hayder Al-Aubaidy và Bs Herbert Jelinek vừa phổ biến kết quả nghiên cứu hiện tượng oxýt hoá làm hư hại DNA, bệnh tiền tiểu đường và tiểu đường loại 2. Kết quả nghiên cứu cho biết mức 8-OHdG (8-hydroxy-2-deoxy-guanosine) bệnh nhân tiền tiểu đường tăng cao trong huyết thanh. Tăng cao 8-OHdG là tăng cao hiện tượng oxýt hoá làm hư hại DNA trong trường hợp bệnh nhân tiền tiểu đường có mức đường glucose tăng nhẹ trong máu. Kết quả khuyến cáo có sự liên hệ giữa chất 8-OHdG với chỉ số trọng khối cơ thể (BMI, body mass index), và mập phì với mức đường cao trong máu và hiện tượng oxýt hoá làm hư hại DNA. 8-OhdG là một sản phẩm do oxýt hoá chất deoxyguanosine. Đo lượng 8-OhdG trong tế bào là đo mức oxýt hoá (oxydative stress) trong tế bào.

Dấu ấn FGFR1 và mập phì.

Bs Hong Jiao và các cộng sự viên tìm hiểu FGFR1 có phải là di thể nguyên bào sợi (fibroblast) liên hệ bệnh mập phì. Thử nghiệm chuột cho thấy FGFR1 là một di thể của mập phì ảnh hưởng mô mỡ và kiểm soát tuyến não thùy khi nếm đồ ăn.

FGFR1 (Fibroblast growth factor receptor 1) là thụ thể 1 trong yếu tố căn bản của nguyên bào sợi, liên hệ chất Tyrosine kinase trong hội chứng Pfeiffer. Pfeiffer là một bệnh di truyền ở trẻ em sơ sinh khi những mảnh xương sọ sớm dính lại vơí nhau (craniocynostosis). Cứ khoảng 100 ngàn trẻ sơ sinh lại có 1 em bị hội chứng Pfeìffer.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
http://www.yduocngaynay.com

 
Leave a comment

Posted by on May 13, 2011 in Sức Khỏe

 

Tags: , , ,

Ung Thư, Mập Phì, DNA…

EGFR và ung thư.

Bs Avaniyapuram Kannan Murugan và các đồng nghiệp đã tìm hiểu hiện tượng đột biến của một số di thể như GNAQ, MMP8, AKT3, EGFR, và PIQ3R1 trong ung thư tuyến giáp trạng. Kết quả tường trình trong điện báo Endocrine Pathology, 18 April 2011 cho biết khoảng 5% di thể EGFR đột biến trong ung thư tuyến giáp trạng (papillary thyroid cancer).

Đột biến EGFR (epidermal growth factor receptor) thấy trong cơ thể con người còn có tên là ErbB-1; HER1, là một thụ thể thấy ngoài màng tế bào (cell surface receptor).

Trong điện báo Cancer Cytology ngày 11 tháng 03, 2011, Bs Shareen Billard và các cộng sự viên cho biết di thể EGFR và KRAS đột biến trong ung thư phổi (non-small cell lung carcinoma) và khuyến cáo nên thử nghiệm lâm sàng đột biến di thể EGFR hay di thể KRAS.

Trong bản tin Internal Medicine 15 tháng 04, 2011, Hội American Society of Clinical Oncology và National Comprehensive Medical Network khuyến cáo thử nghiệm đột biến di thể EGFR có thể coi như bước đầu quan trọng trong việc định giá điều trị ung thư phổi (non-small cell) di căn hay tái phát. Bệnh nhân ung thư phổi nặng (non-small cell lung cancer) trước khi được điều trị dùng một trong những loại tyrosine kinase inhibitors, loại thuốc nhắm vào kìm hãm EGFR, thì cần thử nghiệm đột biến EGFR.

Liên hệ Oxýt hoá Nitric và Mập phì ở trẻ em.


Bs Codoner-Franch và các đồng nghiệp phổ biến kết quả nghiên cứu cho biết hiện tượng oxýt hoá Nitric tăng cao ở trẻ em mập phì. Có liên hệ giữa hiện tượng oxýt hoá Nitric và những thông số của cơ thể như bụng mập phì, cường độ oxýt hoá (oxidative stress) và những dấu ấn viêm trong cơ thể.

Nitric Oxide còn gọi là Nitrogen monoxide là một hoá chất có công thức hoá học là NO. Tăng biểu hiện NO lâu dài liên hệ ung thư và những điều kiện viêm thường thấy ở bệnh tiểu đường trẻ em, bệnh xơ cứng (multiple sclerosis), phong thấp (arthritis) và viêm lở loét ruột kết mạc (ulcerative colitis).

Oxýt hoá làm hư hại DNA và mập phì bệnh nhân tiểu đường loại 2. Bs Hayder Al-Aubaidy và Bs Herbert Jelinek vừa phổ biến kết quả nghiên cứu hiện tượng oxýt hoá làm hư hại DNA, bệnh tiền tiểu đường và tiểu đường loại 2. Kết quả nghiên cứu cho biết mức 8-OHdG (8-hydroxy-2-deoxy-guanosine) bệnh nhân tiền tiểu đường tăng cao trong huyết thanh. Tăng cao 8-OHdG là tăng cao hiện tượng oxýt hoá làm hư hại DNA trong trường hợp bệnh nhân tiền tiểu đường có mức đường glucose tăng nhẹ trong máu. Kết quả khuyến cáo có sự liên hệ giữa chất 8-OHdG với chỉ số trọng khối cơ thể (BMI, body mass index), và mập phì với mức đường cao trong máu và hiện tượng oxýt hoá làm hư hại DNA. 8-OhdG là một sản phẩm do oxýt hoá chất deoxyguanosine. Đo lượng 8-OhdG trong tế bào là đo mức oxýt hoá (oxydative stress) trong tế bào.

Dấu ấn FGFR1 và mập phì.

Bs Hong Jiao và các cộng sự viên tìm hiểu FGFR1 có phải là di thể nguyên bào sợi (fibroblast) liên hệ bệnh mập phì. Thử nghiệm chuột cho thấy FGFR1 là một di thể của mập phì ảnh hưởng mô mỡ và kiểm soát tuyến não thùy khi nếm đồ ăn.

FGFR1 (Fibroblast growth factor receptor 1) là thụ thể 1 trong yếu tố căn bản của nguyên bào sợi, liên hệ chất Tyrosine kinase trong hội chứng Pfeiffer. Pfeiffer là một bệnh di truyền ở trẻ em sơ sinh khi những mảnh xương sọ sớm dính lại vơí nhau (craniocynostosis). Cứ khoảng 100 ngàn trẻ sơ sinh lại có 1 em bị hội chứng Pfeìffer.

Bác sĩ Trần Mạnh Ngô
http://www.yduocngaynay.com

 
Leave a comment

Posted by on May 9, 2011 in Sức Khỏe

 

Tags: , , ,

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.

Join 42 other followers

%d bloggers like this: