Tags

,

Máu là nguồn gốc tạo các dịch lỏng khác như dịch bạch huyết, dịch kẽ tế bào, dịch não tủy, dịch màng bụng, màng phổi, màng khớp…Tất cả các dịch đó tạo thành nội môi, trong đó máu là thành phần quan trọng nhất. Máu và bạch huyết có những tính chất lí – hoá tương đối ổn định. Nhờ đó hoạt động của các cơ quan trong cơ thể được đảm bảo, ít bị ảnh hưởng trước những thay đổi của môi trường.

Sự ổn định về tính chất lí – hoá được thể hiện ở những mặt sau:

4.1.1. Khối lượng máu

Khối lượng máu phụ thuộc vào trọng lượng cơ thể, vào tuổi, vào trạng thái cơ thể. Ở người trưởng thành, bình thường máu chiếm 7- 9% (hay 1/13) toàn bộ trọng lượng cơ thể. Tổng số máu trong cơ thể có khoảng 4 -5 lít  hay 70 – 90 ml/kg thể trọng. Lượng máu ở trẻ sơ sinh, chiếm khoảng 14%, trẻ đang bú 11%. Thường lượng máu tăng lên sau bữa ăn. Khi đói hay khi mất nước thì khối lượng máu giảm. Ở phụ nữ có thai, lượng máu cũng tăng

Trong trạng thái sinh lí bình thường, chỉ có 50% lượng máu được lưu thông trong hệ thống mạch máu, còn lại 50% lượng máu được giữ trữ ở các tổ chức. Trong đó lượng máu giữ trữ ở lách khoảng 16%, ở gan khoảng 20% và ở các mạch máu dưới da khoảng 10%. Lượng máu giữ trữ này có thể được huy động trong những trường hợp cơ thể cần nhiều máu

Tỉ lệ lượng máu giữ trữ có thể thay đổi tuỳ thuộc trạng thái hoạt động của cơ thể. Khi nghỉ ngơi hoặc ngủ, lượng máu giữ trữ tăng lên, còn khi bị mất máu, khi lao động cơ bắp kéo dài, khi bị sốt nóng, khi bị ngạt thở hay xúc động mạnh thì lượng máu lưu thông tăng.

Khi bị mất máu có thể gây nguy hiểm cho cơ thể. Nếu mất nhanh đột ngột 30 % máu động mạch hoặc mất nhanh 30 – 35% tổng lượng máu thì cơ thể sẽ chết ngay  vì bị giảm huyết áp đột ngột.

4.1.2. Tỉ trọng và độ quánh của máu

+ Tỉ trọng máu toàn phần lớn hơn nước. Ở người, tỉ trọng của máu bằng 1,050 – 1,060  (Trong đó tỉ trọng của riêng huyết tương là 1,028 – 1,030, của riêng hồng cầu là 1,09 – 1,10). Tỉ trọng của máu nam cao hơn tỉ trọng của máu nữ (nam 1,057, nữ 1,050). Tỉ trọng của máu có thể thay đổi, phụ thuộc vào nồng độ protein và hồng cầu có trong máu; vào trạng thái cơ thể và tuỳ theo loài. Tỉ trọng của máu có thể tăng lên khi bị mất nước và giảm khi cơ thể bị mất máu.

+ Độ nhớt (độ quánh) của máu lớn gấp 5 lần so với nước, thường dao động trong khoảng 4-5. Trong đó độ nhớt của huyết tương là 1,2 -2. Độ quánh của máu phụ thuộc vào hàm lượng protein và muối khoáng trong huyết tương. Ở trẻ sơ sinh, độ nhớt của máu tăng khi cơ thể bị mất nước.

4.1.3. Áp suất thẩm thấu của máu (thẩm áp)

Áp suất thẩm thấu (ASTT) của máu phụ thuộc vào hai yếu tố chính là lượng khoáng hoà tan trong máu, khoảng 0,9 – 1,0% (gọi là áp suất thẩm thấu tinh thể) và lượng protein hoà tan trong huyết tương (gọi là áp suất keo, trị số khoảng 25 mmHg). Áp suất keo tuy nhỏ nhưng lại có vai trò quan trọng trong việc giữ và trao đổi nước giữa mao mạch và mô, do đó nó quyết định sự phân phối nước cho cơ thể.

Ở người, trong điều kiện bình thường, ASTT của máu toàn phần khoảng 7,6 – 8,1 atmotphe (at). Sự ổn định ASTT máu có ý nghĩa sinh lý quan trọng, đảm bảo cho hồng cầu thực hiện chức năng sinh lí.  Nếu ASTT của hồng cầu và huyết tương bằng nhau thì hồng cầu giữ nguyên hình dạng và kích thước. Trong dung dịch nhược trương, có ASTT thấp hơn ASTT của hồng cầu, nước sẽ thấm vào trong hồng cầu làm vỡ hồng cầu. Trong dung dịch ưu trương, có ASTT cao hơn ASTT của hồng cầu, nước trong hồng cầu sẽ thấm ra ngoài, hồng cầu bị teo lại và cũng bị hủy. Như vậy trong cả hai trường hợp máu đều bị phá hủy. Ðó là hiện tượng tiêu huyết. Hiện tượng tiêu huyết còn xảy ra khi máu tiếp xúc với clorofooc, ether, cồn, tia cực tím, tia X, các chất phóng xạ, độc tố của vi trùng, giun sán, nọc nhện, ong, bọ cạp, rắn độc…

4.1.4. Độ pH của máu

Độ pH của máu dao động trong khoảng 7,35 – 7,39. Nó là chỉ số ổn định. Sự thay đổi nhiệt độ cơ thể không làm thay đổi pH của máu. Sự ổn định pH của máu đảm bảo cho sự hoạt động của hồng cầu và của các cơ quan ít bị biến đổi. Chỉ cần thay đổi pH ± 0,2 có thể gây rối loạn hoạt động cơ thể và có thể tử vong.

Độ pH của máu phụ thuộc vào nồng độ ion H+ và ion OH-, nghĩa là phụ thuộc vào sự cân bằng axít – bazơ trong máu. Quá trình trao đổi chất luôn biến động liên tục, nên nồng độ ion H+ và ion OH- cũng biến động. Nhưng pH của máu luôn ổn định, đó  là nhờ hệ đệm trong máu.

4.1.5. Hệ đệm của máu

Hệ đệm của máu gồm nhiều đôi đệm. Mỗi đôi đệm do một axít yếu và một muối kiềm mạnh, hoặc một muối mono axit và muối đi axit tạo nên.

Hệ đệm máu được hình thành ngay trong tháng đầu sau khi sinh. Nhờ hệ đệm mà độ pH trong máu luôn được ổn định. Tuy nhiên khả năng đệm của máu cũng có một giới hạn nhất định. Nếu hàm lượng axit hoặc kiềm trong máu tăng quá cao sẽ làm cho cơ thể trúng độc.

Trong máu có nhiều đôi đệm, trong đó có 3 hệ đệm quan trọng là hệ đệm bicacbonat, hệ đệm photphat, hệ đệm protein.

+ Hệ đệm bicacbonat:

Hệ đệm bicacbonat chiếm khoảng 7- 9% khả năng đệm của máu. Tham gia hệ đệm này gồm có axit cacbonic với muối kiềm bicacbonat natri hay bicacbonat kali. Nếu trong các sản phẩm của quá trình trao đổi chất chuyển vào máu chứa nhiều axit thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion H+ bởi muối bicacbonat, axit cacbonic thừa sẽ được phổi thông khí ra ngoài vì sự tăng nồng độ H+ sẽ kích thích trung khu hô hấp, còn nếu trong máu chứa nhiều bazơ thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion OH-  bởi axit cacbonic.

Công thức tổng quát :  H2CO/ B.HCO3 (Trong đó B là ion Na+ hoặc ion K)

Ví dụ: axit lactic được tạo ra trong quá trình đường phân đi vào máu, sẽ kết hợp với NaHCO3 để tạo thành lactatnatri và axit cacbonic. Axit cacbonic là một axit yếu sẽ được thải ra ngoài qua đường hô hấp

Axit lactic  + NaHCO3  => lactat natri + H2CO3

H2CO3  => CO2 + H2O

+ Hệ đệm photphat:

Hệ đệm photphat cũng hoạt động tương tự như hệ đệm bicacbonat nhưng tác dụng yếu hơn. Tham gia hệ đệm này gồm có muối photphat monoaxit và muối photphat điaxit. Nếu trong các sản phẩm của quá trình trao đổi chất chuyển vào máu chứa nhiều axit thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion H+ bởi muối photphat điaxit, còn nếu chứa nhiều bazơ thì sẽ xảy ra phản ứng trung hoà các ion OH-  bởi muối photphat monoaxit

Công thức tổng quát : B.H2PO4 / B2.HPO4 (Trong đó B là ion Na+ hoặc ion K+)

+ Hệ đệm protein (P)

Hệ đệm protein gồm có các loại  protein trong huyết tương và hemoglobin, hoặc oxi hemoglobin trong hồng cầu. Đây là hệ đệm quan trọng nhất trong các hệ đệm của máu. Chiếm tới 1/6 hệ đệm của máu và chiếm 3/4 lượng axit cacbonic của máu.

Công thức tổng quát: H.P / B.P và H.Hb / B.Hb hay H.HbO2 / B.HbO2   (Trong đó B là ion Na+ hoặc ion K+ )

Phản ứng được biểu thị bằng công thức tổng quát sau:

B.P +  H2CO=>H.P + B.HCO3

Hệ đệm protein có hiệu quả nhất là huyết cầu tố hemoglobin (Hb) chứa trong hồng cầu. Hb có khả năng đệm gấp 10 lần các protein khác của huyết tương.

H2CO3 trong máu tăng cao sẽ thấm vào hồng cầu và tranh cation của Hb, vốn là một axit rất yếu, nên biến thành bicacbonat

B.Hb +  H2CO=>H.Hb + B.HCO3

Khả năng gắn với các cation của hemoglobin lớn gấp 3 lần so với protein huyết tương và lượng hemoglobin nhiều gấp hơn 3 lần protein huyết tương, nên hệ đệm hemoglobin lớn gấp 10 lần hệ đệm protein trong huyết tương.