Bệnh Vẩy Nến

Bệnh vẩy nến chiếm 5% dân số châu Âu, 2% dân số châu Á và châu Phi, xấp xỉ 10% tổng số các bệnh nhân đến khám ở các phòng khám Da liễu. Bệnh lành tính, thường không ảnh hưởng đến sức khỏe nhưng ảnh hưởng đến thẩm mỹ, tâm lý và những hệ lụy của nó. Nam gặp nhiều hơn nữ, người lớn nhiều hơn trẻ em. Bệnh phát thành từng đợt, có khi tăng giảm theo mùa.

Nguyên nhân

Vẩy nến là do rối loạn biệt hóa lành tính của tế bào thượng bì. Cho đến nay vẫn chưa khẳng định rõ ràng nguyên nhân. Nhưng người ta biết chắc chắn 5 yếu tố sau đây làm nên cơ chế sinh bệnh:

  1. Di truyền: Khoảng 30% bệnh nhân có yếu tố gia đình (cha, mẹ, anh chị em ruột hoặc họ hàng trực hệ); 70% các cặp song sinh cùng mắc. Các nghiên cứu chỉ ra các kháng nguyên HLAW6, B13, B17, DR7 liên quan đến vẩy nến da và khớp.
  2. Nhiễm khuẩn: vẩy nến ở trẻ em, vẩy nến thể giọt người ta phân lập được liên cầu khuẩn ở tổn thương và điều trị kháng sinh thì bệnh thuyên giảm.
  3. Stress: Làm bệnh tái phát hoặc đột ngột nặng lên.
  4. Thuốc: Bệnh vẩy nến xuất hiện sau khi sử dụng một số thuốc: chẹn beta kéo dài, lithium, đặc biệt sau khi sử dụng corticoid.
  5. Hiện thượng Kobner: thương tổn mọc lên sau các kích thích cơ học (gãi, chà xát) hoặc các kích thích lý hóa (bệnh nặng nhẹ theo mù

Nhận diện

  • Vẩy nến ở da: Trên da có các mảng đỏ ranh giới rõ, phía trên có vẩy dầy màu trắng. Khi chạm vào vùng da bị bệnh thì thấy khô, cứng. Khó xác định hơn nếu thương tổn chỉ có ở đầu do tóc che khuất cho nên cần chú ý: nếu thấy ở đầu tự nhiên thấy gầu nhiều và dầy lên so với trước đây.
  • Vẩy nến ở móng: Móng dầy hoặc có nhiều lỗ nhỏ trên bề mặt móng.
  • Vẩy nến ở khớp: Các khớp bị biến dạng, bệnh nhân khó vận động.
  • Vẩy nến thể mủ: Trên da có các mụn mủ khô và nông.
  • Vẩy nến thể đỏ da toàn than.
  • Bệnh này vào mùa khô thì phát triển mạnh hơn, gây đau đớn cho bệnh nhân khi vùng da nhiễm bệnh bị va chạm hoặc có hiện tượng chảy máu chỗ da bị nứt. (đôi khi nhầm với bị nứt nẻ da, cũng hay gặp ở mùa khô)

Những điều cần tránh

Nhìn vào 5 yếu tố làm nên cơ chế sinh bệnh mà ta phải:

  • Tránh căng thẳng (stress)
  • Tránh kì cọ và bóc da (hiện tượng Kobner)
  • Tránh để vùng da bị bệnh tiếp xúc với các chất có tính bazơ cao như xạt phòng, vôi,… vì khi đó vùng da nhiễm bệnh sẽ mở rộng ra.
  • Cẩn thẩn khi dùng thuốc nếu mắc thêm các bệnh về tim mạch.
  • Tránh nhiễm khuẩn: Đặc biệt là nhiễm khuẩn taimũihọng.
  • Tránh rượu: Vì rượu làm bệnh nặng lên và tương kị với các thuốc điều trị.
  • Nên lạc quan với bệnh tật: do bệnh lành tính và phổ biến, khoa học tiến bộ không ngừng trong việc tìm ra nguyên nhân đích thực của bệnh và hàng năm đều ra đời các thuốc và phương pháp chữa bệnh mới có hiệu quả hơn. Hãy tin tưởng rằng trong tương lai không xa bệnh vẩy nến sẽ có các đột phá mới.
  • Tránh gây trầy xước da ở vùng này, sẽ gây nhiễm trùng, vết thương trở lên đau đớn. Cẩn thận khi sử dụng các loại thuốc bôi dưỡng da, cần phải xem kĩ các loại thuốc bôi dưỡng da có ảnh hưởng đến vùng da bị bệnh hay không.

Điều trị tại chỗ

Dùng các loại mỡ, kem, dung dịch với mục đích bong vẩy, tiêu sừng, hạn chế hình thành nhanh chóng vẩy da như:

  • Mỡ Salicyle 5%, 10%
  • Vitamin D3 và dẫn chất
  • Goudron
  • Nếu bệnh gặp ở bàn chân thì nên luôn luôn đi giầy có bít tất khi đi ra ngoài đường, điều này sẽ giúp da chân không cảm thấy khô, đồng thời ngăn ngừa các vết nứt ở da bị nhiễm khuẩn.
  • Hạn chế tiếp xúc với xạt phòng.

Điều trị toàn thân

  • Acitretine: (Soriatane)
  • Cyclosporin: (Neoral)
  • Methotrexate
  • Quang trị liệu: UVB phổ hẹp(UVBTL01)
  • Quang hóa trị liệu: PUVA

Các thông tin trên đây chỉ mang tính tham khảo mọi người nên tìm đến bác sĩ chuyên môn để có được thông tin chi tiết và cách điều trị thích hợp.

(Theo Wikipedia)

Vẩy nến là một bệnh da mãn tính, có tính cách miễn dịch di truyền và chưa thể chữa khỏi hoàn toàn. Bệnh không lây nhưng rất thường gặp với tỉ lệ từ 1.5% – 2% dân số thế giới và có những đặc điểm sau:

Đến nay vẫn còn nhiều điểm chưa sáng tỏ nhưng hầu hết các tác giả đều cho vẩy nến là bệnh da di truyền. Yếu tố di truyền được thừa nhận, sau tác động của các yếu tố kích hoạt (stress, sang chấn tâm lý, lo âu, rượu bia, yếu tố nhiễm trùng, chấn thương, phẫu thuật, việc sử dụng một số thuốc…) thì gen gây bệnh vẩy nến sẽ bị kích hoạt và gây bệnh. Gen này nằm trên nhiễm sắc thể số 6.
– Tỉ lệ mắc bệnh tương đương giữa 2 phái nam & nữ. 
– Lứa tuổi mắc bệnh thay đổi từ vài tháng tuổi đến 70 tuổi. Đa số từ 12 tuổi – 40 tuổi.
– Chủng tộc: tần suất bệnh thấp ở người Tây Âu, Nhật bản, và Eskimo; rất thấp hay hiếm khi mắc bệnh ở người da đỏ Bắc Mỹ và Nam Mỹ
– Nếu cha hay mẹ bị vẩy nến thì tỉ lệ con mắc bệnh là 8%, nếu cả cha và mẹ cùng bị vẩy nến thì tỉ lệ này lên đến 41%; anh em sinh đôi cùng trứng cùng bị vẩy nến chiếm tỉ lệ 75%.
– Các yếu tố có vai trò khởi động, kích hoạt gen gây bệnh vẩy nến
:
+ Căng thẳng thần kinh (stress), lo âu, chấn thương tâm lý …có liên quan đến việc phát bệnh vẩy nến hay làm bệnh vẩy nến có sẵn trở nặng thêm. Bệnh nhân vẩy nến thuộc nhóm người có loại hình thần kinh dễ bị kích động, hay lo lắng.
+ Tình trạng rối loạn chuyển hoá, rối loạn nội tiết (bệnh giảm khi có thai và tăng sau sinh đẻ).
+ Yếu tố nhiễm khuẩn: vai trò của các ổ nhiễm khuẩn khu trú có liên quan đến quá trình phát bệnh và phát triển bệnh vẩy nến (viêm mũi họng, viêm amygdale) mà chủ yếu là vai trò của liên cầu trùng streptococcus. Riêng vai trò của siêu vi trong vẩy nến vẫn chưa rõ.
+ Vẩy nến có thể bị gây ra do nhiều loại thuốc như: lithium, ức chế b, thuốc kháng sốt rét, một số thuốc kháng viêm không steroid. Đặc biệt việc dùng các thuốc loại corticosteroid (dexamethasone, prednisolone,… ) để điều trị vẩy nến có thể gây vẩy nến mủ hay đỏ da toàn thân.
+ Các chấn thương cơ học cũng có vai trò trong sự phát sinh vẩy nến với tỉ lệ 14% số trường hợp.
– Cơ chế miễn dịch của vẩy nến:
Vẩy nến được xem như là 1 tình trạng tăng sinh quá mức của các tế bào sừng (kereatinocyte) ở thượng bì với sự ký sinh của các tế bào lympho ở lớp bì. người ta nhận thấy có rất nhiều tế bào lympho T xâm nhập vào vùng da tổn thương (tế bào T – CD4, CD8).
II. Lâm sàng
– Sang thương căn bản của vẩy nến là các hồng ban giới hạn rõ, không phẩm nhuận, hình tròn hay đa cung, tróc vẩy trắng và có thể có ngứa trong 20 – 40% các trường hợp. 
– Kích thước của hồng ban vẩy nến thay đổi từ vài mm đến vài chục cm, bề mặt phủ vẩy trắng như sáp đèn cầy (vẩy nến), khu trú ở 1 vùng hay rải rác khắp da đầu, mặt, thân mình và tứ chi.
– Các vị trí thường gặp của sang thương vẩy nến: da đầu, lông mày, rìa chân tóc, cùi chỏ, đầu gối, vùng xương thiêng (xương cùng), cơ quan sinh dục, rốn, móng tay, móng chân. Đôi khi bệnh có thể phát triển toàn thân.
– Sang thương vẩy nến có thể xuất hiện ở vị trí các vùng da bị chấn thương, cọ sát như các vết gãi, vết trầy sướt, sẹo chổ tiêm chích (hiện tượng Koebner). Vẩy nến cũng có thể gây tổn thương toàn bộ các móng trong 25% trường hợp, tổn thương viêm khớp vẩy nến xảy ra khoảng 10%-30% bệnh nhân và thường ở độ tuổi từ 30 đến 50 tuổi.
III. Chẩn đoán
Vẩy nến được chẩn đoán chủ yếu dựa vào lâm sàng. Không có xét nghiệm đặc thù nào dùng để chẩn đoán bệnh vẩy nến.
– Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi 3% đến 10% da có dấu hiệu bệnh và nặng khi sang thương vẩy nến bao phủ toàn bộ da. 
– Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, lớp sừng chưa kịp trương thành đã sản sinh ra thêm lớp khác nên các vẩy dính chùm đè lên nhau như các lớp của củ hành.. 
IV. Tiến triển
Bệnh vẩy nến không lây, có tiến triển mạn tính với từng đợt bộc phát xen kẽ thời gian bệnh ổn định và rất khó dự đoán tiến triển. Một số trường hợp bệnh ổn định hay chỉ khu trú ở một vài vị trí. Một số trường hợp khác bệnh lan dần, có lúc giảm và lại có lúc bộc phát. Có thể có nhiều cơn bộc phát liên tục đưa đến đau khớp (vẩy nến khớp) hay đỏ da toàn thân. Bệnh có thể tiến triển mạn tính hầu như suốt đời và hiếm khi khỏi bệnh hoàn toàn. Một số trường hợp tự nhiên khỏi bệnh nhưng cũng có thể tái phát. 
Chất lượng cuộc sống bệnh nhân vẩy nến bị giảm sút và bệnh ảnh hưởng nhiều đến yếu tố thẩm mỹ, tâm lý sinh hoạt của bệnh nhân. Bệnh gây khó chịu nhất khi sang thương xuất hiện ở da đầu, bàn tay, bàn chân và vùng cơ quan sinh dục. Vẩy nến ở lòng bàn tay, lòng bàn chân gây nhiều khó khăn, trở ngại cho người bệnh trong sinh hoạt, lao động chân tay. Vẩy nến khớp ảnh hưởng đến các khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, thắt lưng, vùng cổ-gáy cũng ảnh hưởng rất nhiều đến mọi hoạt dộng thường nhật. 
Các biến chứng thường gặp của vẩy nến là đau khớp biến dạng khớp, chàm hoá, đỏ da toàn thân, bội nhiễm vi trùng ngoài da và hiếm gặp ung thư da.

V. Các thể lâm sàng
Có nhiều dạng vẩy nến thay đổi tuỳ theo cách phân loại: số lượng sang thương, kích thước, sự lan rộng hay theo hình thể, theo vị trí, theo tuổi bệnh nhân.
Ta có thể có: vẩy nến giọt, vẩy nến mảng, vẩy nến toàn thân, vẩy nến khớp, vẩy nến mủ, vẩy nến da đầu, vẩy nến móng, vẩy nến niêm mạc, vẩy nến bẩm sinh, vẩy nến trẻ em, vẩy nến đỏ da toàn
thân.

VI. Điều trị
– Điều trị vẩy nến là cả một sự thách thức và đến nay vẫn còn nan giải. Mục đích chính của việc điều trị là làm sạch thương tổn bằng cách làm gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của lớp tế bào biểu bì.
– Có rất nhiều loại thuốc và nhiều phương pháp điều trị vẩy nến được áp dụng nhưng chưa có phương pháp nào được xem là tối ưu có thể chữa khỏi hẳn được. Tất cả chỉ mới dừng lại ở mức độ làm bệnh thuyên giảm, tạm ổn về lâm sàng, và hạn chế tái phát, phòng ngừa biến chứng.
– Cả thầy thuốc và bệnh nhân đều phải kiên nhẫn trong điều trị vẩy nến. Đối với trường hợp vẩy nến mức độ nhẹ và trung bình, việc điều trị tại chỗ bằng các loại thuốc bôi thường được áp dụng. Các dạng vẩy nến trung bình hay nặng hơn có thể phải sử dụng phương pháp điều trị bằng tia cực tím hoặc thuốc uống toàn thân.
1. Điều trị tại chỗ:
Có rất nhiều thuốc bôi được sử dụng tại chỗ để điều trị vẩy nến:
-Các thuốc chứa corticosteroid: diprosone – diprosalic
-Các chất tiêu sừng có chứa a.salicylique
-Các chất khử (hắc ín): coal tar – dầu cad
-Các dẫn xuất của vitamin D3: calcipotriol – (daivonex)
-Các thuốc đông y: hạ khô thảo, thổ phục linh
-Các thuốc bôi mới: tazarotine – tacrolimus.
2. Quang trị liệu
Dùng tia cực tím (UV) tác động lên lớp thượng bì và trung bì trong điều trị vẩy nến với các ưu điểm là tỉ lệ sạch thương tổn cao và thời gian khỏi bệnh nhanh, kéo dài hơn, liệu pháp quang hoá trị (PUVA) dùng Psoralène (meladinine) uống 2 giờ trước khi chiếu UVA x 3 lần/ tuần
3. Điều trị bằng thuốc uống hệ thống
– Cổ điển: Một số thuốc khá đắt và có nhiều đặc tính cũng như tác dụng phụ như cyclosporin, methotrexate – hydroxyurea – retinoid – dapsone.
– Các thuốc sinh học mới: Tác động trực tiếp lên tế bào (T) hoặc Cytokine như alefacept – efalizumab – alenerceft – rosiglitazone – tazarotene – Pimecrolimus.
Nguyên nhân của vẩy nến hiện nay được chứng minh có liên quan đến đáp ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và dấu ấn vủa cytoline. Vì vậy các thuốc điều chỉnh miễn dịch chọn lọc với độc tính ít hơn được xem như 1 thế hệ trị liệu mới trong việc kiểm soát và chữa lành vẩy nến.
VII. Phòng bệnh
1-Người lành
Đối với người lành việc phòng bệnh vẩy nến không có ý nghĩa nhiều vì đây không phải là bệnh truyền nhiễm. Vấn đề là người thầy thuốc nên khuyến cáo cho những người thân trong gia đình của bệnh nhân vẩy nến về việc bệnh lý có tính di truyền với tỉ lệ 8% và anh em sinh đôi cùng trứng có 75% trường hợp cùng mắc bệnh vẩy nến
2-Người bệnh vẩy nến
Việc phòng bệnh có tác dụng hạn chế việc bệnh tiến triển nặng thêm hay bệnh có thể tái phát nhanh hơn. Bệnh nhân được khuyến cáo:
– Giữ tin thần luôn thoải mái, tránh các lo âu, phiền muộn hay các sang chấn tinh thần, không thức khuya.
– Tránh dùng các chất kích thích như rượu bia, cà phê, thuốc lá, hạn chế các loại thức ăn có nhiều đường, nhiều chất béo.
– Tránh dùng các thuốc ức chế miễn dịch hệ thống như corticosteroid để điều trị bệnh vì có thể làm bệnh nặng hơn (vẩy nến mủ) hay gây đỏ da toàn thân
– Tránh các chấn thương trầy sướt ngoài da
3Trường hợp bệnh vẩy nến có biến chứng:
Bệnh cần được nhập viện điều trị tích cực, chú ý việc tránh cứng khớp làm mất khả năng lao động.
KẾT LUẬN: Vẩy nến là một bệnh ngoài da mạn tính do phản ứng miễn dịch gây viêm, rất phổ biến, chiếm tỉ lệ từ 1.5% – 2% dân số thế giới, chưa thể chữa khỏi hoàn toàn với biểu hiện lâm sàng đa dạng và không phải luôn luôn dễ chẩn đoán.
Bệnh không lây nhưng cần được điều trị sớm và đúng để hạn chế các biến chứng. Nguyên nhân sinh bệnh rất phức tạp nên việc điều trị bệnh cũng còn hạn chế ở mức khống chế tình trạng bệnh tự nhiên nhưng bệnh cũng thường tái phát. Các thuốc ức chế miễn dịch hiện nay tương đối có hiệu quả trong việc kiểm soát vẩy nến đến một mức độ nhất định nhưng có nhiều bất lợi như độc tính cao và dể tái phát khi ngưng điều trị. Thế hệ thuốc điều trị mới tập trung chủ yếu vào các mục tiêu chuyên biệt trong phản ứng miễn dịch qua trung gian tế bào và ít có tác dụng phụ nghiêm trọng như các thuốc cổ điển.
BS. LÊ ĐỨC THỌ
Trưởng Khoa Da Liễu – BV Hoàn Mỹ Sài Gòn tổng hợp

Bác sĩ Nguyễn Ý-Đức viết: Câu Chuyện Thầy Lang
Bệnh VẨY NẾN 
Vẩy Nến (Psoriasis) là một bệnh có tính cách miễn dịch-di truyền với các dấu hiệu trên da và khớp xương. Đặc điểm của bệnh là những vẩy khô mầu bạc hồng, rất ngứa, tụ gọn với nhau. Vẩy lớn nhỏ khác nhau, thường có trên khuỷu tay, cánh tay trước, đầu gối, chân, da đầu và các bộ phận khác trong cơ thể. Bệnh thường kéo dài lâu ngày và hay tái phát.
Bệnh khá phổ biến. Riêng tại Hoa Kỳ có khoảng trên 7.5 triệu nạn nhân.
Bệnh có bất cứ ở tuổi nào nhưng thường là từ 12 tuổi tới 40 tuổi. Khoảng từ10%-15% bệnh xảy ra trước 10 tuổi. Dân da trắng thường bị vẩy nến nhiều hơn người da mầu. Nam nữ đều mắc bệnh nhiều như nhau.
Nguyên nhân
Nguyên nhân gây ra bệnh chưa được biết rõ. Có giải thích cho rằng bệnh gây ra do một sự nhầm lẫn của hệ miễn dịch, đặc biệt là các bạch cầu loại T. Bình thường, các tế bào này tuần hành theo máu khắp cơ thể để truy lùng, tiêu diệt các sinh vật hoặc hóa chất gây bệnh. Trong bệnh vẩy nến, bạch cầu T tấn công nhầm các tế bào biểu bì, tưởng chúng là thù địch. Bị kích thích, biểu bì tăng sinh rất nhanh trong vòng vài ba ngày, thay vì cả tháng như thường lệ. Không tróc kịp, các tế bào này và T cell xếp thành từng lớp vẩy trên da. Nguyên nhân của sự nhầm lẫn vẫn còn trong vòng bí mật và diễn tiến bệnh tiếp tục nếu không được điều trị. Cũng có giải thích bệnh có tính cách thừa kế di truyền và nhiều người trong một gia đình có thể cùng bị bệnh.
Một số yếu tố có thể khiến bệnh phát ra là:
-xúc động tâm lý mạnh ảnh hưởng lên hệ miễn dịch, có thể kích thích bệnh xuất hiện lần đầu hoặc tăng mức trầm trọng của bệnh đang tiến triển.
-chấn thương liên tục trên da như vết trầy, vết cắt, cháy da;
-nhiễm độc da hoặc cuống họng, nhiễm HIV
-tác dụng của một vài dược phẩm như thuốc chống sốt rét, thuốc trị tâm bệnh lithium, thuốc trị cao huyết áp loại beta blocker.
-tiêu thụ nhiều rượu hoặc thuốc lá
-mập phì
-thời tiết lạnh hoặc do một vài thực phẩm.
Vẩy nến không lây lan vì không phải là bệnh truyền nhiễm.
Mặc dù vẻ dáng vẩy coi “dị hợm”, nhưng người bệnh không là hiểm họa cho sức khỏe và sự an toàn của người khác.
Triệu chứng.
Bệnh thường xuất hiện từ từ, tồn tại một thời gian rồi thuyên giảm. Sau đó bệnh tái phát, nhất là khi có chấn thương da, cháy nắng, viêm, dị ứng thuốc. Dấu hiệu đặc biệt nhất là những mảng vết thương trên da khô, hình bầu dục hoặc tròn, mầu hồng đỏ phủ lên trên là nhiều lớp vẩy mầu bạc. Các vết này rất ngứa và đau. Ngứa vì da khô và dây thần kinh dưới da bị một vài hóa chất kích thích, khiến cho não phát ra cảm giác ngứa, muốn gãi. Ngoài ra, dấu vết trên da có thể là:
-vẩy nến giọt mầu đỏ hình bầu dục.
– vẩy nến đảo ngược ở nếp gấp trên da như cơ quan sinh dục, nách.
– vẩy nến mủ với bóng nước chứa mủ.
– vẩy nến từng mảng lớn mầu đỏ với hậu quả trầm trọng như rối loạn thân nhiệt, mất cân bằng chất điện giải cơ thể.
-vẩy nến khớp xương, gây trở ngại cho cử động.
Bệnh thường có trên da đầu, sau vành tai, khuỷu tay, đầu gối, hông, vùng cơ quan sinh dục. Móng tay, lông mày, rốn, hậu môn cũng thường bị ảnh hưởng. Đôi khi bệnh lan khắp cơ thể.
Khi lành, vết thương thường không để lại sẹo và ở trên đầu, tóc vẫn mọc.
Trong 60% các trường hợp, móng tay móng chân cũng bị bệnh: móng chẻ, mất mầu dầy cộm nom như bị bệnh nấm.
Khoảng từ 10 tới 30% bệnh nhân bị viêm khớp-vẩy nến, thường thường ở tuổi 30 tới 50.
Định bệnh
Không có thử nghiệm máu hoặc phương thức khoa học nào để chẩn đoán bệnh. Bác sĩ xác định bệnh qua hình thù, mầu sắc của vẩy trên da, đôi khi lấy một chút mô ở vùng bệnh để tìm tế bào đặc biệt vẩy nến.
Tiên lượng bệnh – Vẩy nến là bệnh không lây lan. Trừ khi bệnh xâm nhập xương khớp hoặc nhiễm độc, vẩy nến thường không gây ra ảnh hưởng xấu cho sức khỏe tổng quát. Nếu có, chỉ là một chút ảnh hưởng tâm lý, buồn phiền lo âu vì da chẳng giống ai.
Bệnh nhẹ khi dưới 2% da bị ảnh hưởng; trung bình khi da có dấu hiệu bệnh từ 3 đến 10% và nặng khi vẩy bao phủ 10% da.
Tế bào ở các vẩy tăng sinh rất mau, chưa kịp rụng đã ra lớp khác nên các vẩy chùm đè lên nhau. Bệnh gây khó chịu nhất khi xuất hiện ở da đầu, bìu dái, bàn tay, bàn chân và móng tay. Vẩy nến ở lòng bàn tay, bàn chân gây nhiều khó khăn cho người bệnh khi đi đứng, lao động chân tay. Xương khớp cổ tay, cổ chân, đầu gối, lưng quần và cổ cũng thường bị ảnh hưởng và gây ra trở ngại di động, làm việc cho người bệnh.
Vẩy nến là bệnh mãn tính, tồn tại suốt đời. Bệnh nhân cần thường xuyên điều trị, đôi khi bệnh trầm trọng, cần nhập viện, y phí khá tốn kém.
Điều trị – Điều trị vẩy nên là cả một thách thức với mục đích chính là gián đoạn sự tăng sinh quá nhanh của tế bào biểu bì, giảm viêm da, vẩy nến.
Có nhiều phương thức trị liệu khác nhau. Bác sĩ sẽ lựa phương thức thích hợp cho từng bệnh nhân và tùy theo bệnh nặng hay nhẹ. Hiện nay không có trị liệu dứt được bệnh vẩy nến, mà chỉ làm dịu tạm thời.

Xem thêm: 

Nhân chứng trị bệnh vẩy nến

Nước Kangen và bệnh vẩy nến